Những danh từ hạn hẹp do con người tạo ra qua tiếng nói và mực in trên giấy để trao vương miện hoặc phủ bùn đen trên một kiếp nhân sinh rồi cũng sẽ tan đi hay nhạt nhòa tựa hơi gió thoảng qua rèm, dấu mờ vàng úa bám víu thời gian. Ngoại trừ những tên tuổi đã đi vào lịch sử Dân Tộc với danh thơm muôn thủa hay lưu xú vạn niên. Tôi nhìn Vũ Hối không qua một bật thầy Thư Họa, một người thơ và một nhiếp ảnh gia, mặc dù tất cả những bộ môn nghệ thuật ấy đã cùng hội ngộ trên đỉnh cao thiên phú dành cho một người. Như Du Tử Lê đã viết “Vũ Hối là bằng chứng bất công của Thượng Ðế hay kết quả sau cùng của một hiến tặng cuộc đời cho văn học nghệ thuật”. Như Hà Huyền Chi đã ghi “Chữ và thơ của Vũ Hối tươm mật trên từng tuyến màu giao hưởng, làm thành một cõi riêng“. Như tôi cũng từng cảm thông viết nên dòng thơ gửi về Vũ Hối qua bài “Một Trời Lộng Bút” với những câu Ngọn bút Anh rung, vẽ một đời mơ - Sông quyện núi tụ về say nét mực – Một phút giâymà quặn đau tiềm thức – Chữ thay đổi hình dạng kiếp phù sinh.
Tôi đã từng lặng im ngồi nhìn Vữ Hối với một mắt còn lại cuối nửa đời sau của anh, vung tay bắt từng cánh chim phượng, từng khúc lưng rồng, từng ánh tơ trăng, từng điệu vũ cầu vồng, từng lá rụng mưa rơi, từng giọt lệ mọng nước rưng rưng và vô vàn hoa bướm, buộc tất cả phải tượng hình luân vũ trên trang giấy qua nét chữ chập chờn. Vút cao lên tỏa rộng ánh bình minh -Hay chìm xuống, ngỡ ngàng cơn nửa mộng…. Tất cả, đã có người thương mến và cảm phục viết về Vũ Hối, hôm qua, bây giờ và sẽ mai sau.
Ðêm nay, tôi chỉ muốn nhìn Vũ Hối đang nằm cạnh tôi dưới một góc trời lưu vong, đôi bạn cùng tù, như một người thực sự yêu Nước. Một người dân xứ Quảng không đeo mặt nạ. Tôi quay nhìn thật rõ con mắt còn lại của anh mà ngậm ngùi thương bạn, thương mình, thương cả quê hương. Vũ Hối cũng lặng lẽ nhìn tôi, một mắt trong ánh sáng mờ ảo của ngọn đèn khuya, tôi chợt cảm thấy lòng mình nao nao, không dám nhìn sâu thêm nữa, sợ cõi tận cùng cay đắng nơi con đó con người đã đối xử với nhau bằng hận thù bạo lực. Vì lý do không chịu khai báo trong tù , đã tra khảo anh đến mù một mắt và xác thân tê liệt. Nhiều người trong họ Võ – Vũ chúng tôi đã bị giết hại, tù đày, qua từng giai đoạn của mệnh nước điêu linh. Ðể rồi hôm nay, thế hệ chúng tôi cho dù mắt mù chống nạng vẫn còn đứng lên để đòi lại quyền sống không phải chi cho riêng mình.Những thửa ruộng cằn khô đất cày lên sỏi đá, dòng sông như sữa mẹ Thu Bồn, lũy tre làng xác xơ chiều ôm nắng quái, đã nuôi chúng tôi nên người, chung lòng quặn đau niềm đau Tổ Quốc. Dưòng như không có một bước chân nào Vũ Hối đi qua, từ trại tù nơi quê nhà đến bốn phương trời lưu vong hôm nay – dường như không có một bức thư họa nào của Vũ Hối đã triễn lãm trong các sinh hoạt cộng đồng hoặc được trang trọng treo lên nơi nội thất bạn bè, rồng bay trên tơ lụa, phượng múa trên đĩa vàng tráng men- dường như không một câu thơ nào của Vũ Hối trong giây phút linh cảm xuất thần hoặc tích tụ từ bao nỗi trầm thăng cuộc đời và mệnh nước – mà không mang dấu ấn quê hương. Hồn anh và Ðất Mẹ đã hòa chung thành một . Trong dáng khẳng khiu thân xác, trầm tư mộc mạc, ta thấy lại ngọn tre đường làng ngả nghiêng chiều gió đang bật dậy để với đến trời cao. Tinh thần sĩ phu tự hào nòi giống. Trongcuộc sống bịt bùng hay nơi chốn tạm dung, lúc nào anh cũng vươn mình đi tìm Lẽ Sống. Cho Tình Người và cho Nghệ Thuật. Nét đẹp chân chính tụ đầy ánh mắt còn sót lại một đời.














Mời bạn viết lời phê bình: