Hưng Việt 2010-11-21T13:49:18Z http://hungvietsite.org/blog/feed/atom/ WordPress Người Buôn Gió <![CDATA[Treo Blog 15 ngày vì sai sót khi đưa tin]]> http://hungviet.org/blog/?p=18905 2010-11-20T20:27:16Z 2010-11-20T20:27:16Z Hôm trước vì đọc loáng thoáng không kỹ bài viết có nhan đề

http://www.nuvuongcongly.net/xa-hoi/binh-luan/cồn-dầu-“vụ-nổ-lớn”-bắt-cu-huy-ha-vu/

Của tác giả Trần Trung Luận trên trang Nữ Vương Công Lý, trong bài này tác giả có đặt giả thuyết về chuyện chị Dương Hà vợ anh Cù Huy Hà Vũ tuyệt thực. Tôi  Người Buôn Gió đã không đọc kỹ, nghe thành tin chị Hà tuyệt thực thật.

Dẫn đến trong bài viết của tôi có nhan đề ” Chị Dương Hà” có đưa tin ” nghe tin chị Hà tuyệt thực”. Thông tin này khiến chị Hà phải bận rộn vì nhận được quá nhiều lời hỏi thăm của mọi người. Làm nhiều người khác phải lo lắng.

Tôi thành thật nhận lỗi đã vội vàng, không xem kỹ, làm mọi người hiểu nhầm. Với một blog như tôi thì chuyện nhầm lẫn này không thể xuê xoa được. Bởi vậy cùng với lời xin lỗi thành khẩn gửi đến các bạn đọc, tôi tự xin ngừng viết 15 ngày để nhắc nhở mình cẩn trọng cho những lần sau. Đây thật là một bài học đáng nhớ cho tôi.

Hôm nay tôi có gọi điện cho chị Hà, được biết chị rất vẫn mạnh khỏe, chị cũng cố gắng giữ gìn sức khỏe vì biết phải lo cho anh Vũ nhiều việc. Chị  không trách việc tôi viết nhầm, nhưng cũng dặn dò phải cẩn trọng khi đưa tin, viết bài .

Xin lỗi chị Hà và các cháu, cũng như toàn thể những ai đã quan tâm đến anh Vũ và gia đình.

Đây là một sai lầm tệ hại đối với người cầm bút, rất mong được sự châm chước của mọi người.

Một lần nữa, Người Buôn Gió thành khẩn xin lỗi mọi người.

Người Buôn Gió

19-11-2010

Theo Blog Người Buôn Gió

]]>
0
Mai Xuân Dũng <![CDATA[Xích lô nói chiện ô tô]]> http://hungviet.org/blog/?p=18901 2010-11-20T20:22:51Z 2010-11-20T20:22:51Z Việc “quả Titanic Việt nam” bị xì nồi hơi, chả “xin phép” ai cứ tự nhiên chìm lỉm kéo xuống đáy biển cơ man nào là tiền tỷ. Rõ là chuyện tan cửa nát nhà của bách tính vốn đã nghèo mạt, nghèo xác. Không biết ông Chính phủ có thương dân mà hiểu cho nỗi khổ của những người đã đói ăn mà còn phải è cổ đóng thuế cho mấy cha tập đoàn kinh tế Nhà nước phá phách không đây.

Chắc chắn quan chức Chính phủ không phải lo cơm áo gạo tiền chứ đại bộ phận dân chúng vẫn đang cơ cực lắm, ăn chưa no áo chưa lành đâu. Từng ấy tiền thất thoát với ai vô cảm mới dửng dưng chứ là người tử tế ai mà chả xót. Chả trách, bác Thuyết đại biểu Quốc hội nói một câu thật đau rằng số “bạc” của Chính phủ (thực ra là của toàn dân) vì cái vụ Vinashin mà coi như mất cắp số tiền bằng thu nhập của cả một tỉnh trong 100 năm (với điều kiện toàn dân tỉnh đó không được ăn tiêu gì, may sắm gì (nghĩa là quần rách hở truym ra thì chịu khó lấy cái lá sen mà đậy vào). Rồi các bà các chị từ nay không được đi khám y tế cho đến ngày lên nóc tủ (nếu có nghi ung thư ti hay là ung thư tử cung thì chỉ được coi như viêm xoang thôi). Rồi không được cho các cháu học sinh được đi học, đi xem chớp bóng (loại lành mạnh). Rồi các cụ hưu trí tạm miễn cái khoản lương hưu mà chịu khó vận động cái thân hạc mình mai sắm ống bơ ra ngồi đầu chợ mà kiếm cơm. Và vân vân…Nói chung các nhu cầu phải nhịn tất. Đau quá.

Gần đây bác Thuyết có đề xuất bỏ phiếu tín nhiệm Thủ tướng xem dân có còn hòn mê nữa hay chán ngán quan Tể tướng quá rồi.

Phải nói rằng đại biểu Quốc hội mà trực tính như bác Thuyết là hơi bị ít, trời Nam đang buổi tuấn kiệt như sao giữa ngọ, nếu đem ra so gần gần với cỡ bác Thuyết chỉ có bác Bình bên Ủy ban an ninh quốc phòng Quốc hội hoặc bác Huệ chi, bác Quang A hoặc bác Phạm Viết Đào mà thôi. Hiếm có. Rất đáng để nhân dân tin cậy và mến phục.

Nhưng dù sao bác Thuyết cũng là đại biểu Quốc hội còn có quyền miễn trừ (nghĩa là có sợ công an nhưng sợ in ít thôi chứ không như dân. Dân thì sợ công an chết khiếp như đi đêm gặp ma cà rồng là lẽ dĩ nhiên rồi).

Ấy vậy mà có một “anh nhân dân” Cù Huy Hà Vũ cóc biết sợ công an gì cả. Trước đây mấy tháng, Tiến sỹ luật Cù Huy có cù nách Thủ tướng đâu đến hai ba lần gì đó. Mình là người đứng xa ngó ngó mà còn thấy “nhột nhạt” hết cả sống lưng, vậy mà Tiến sỹ Cù vẫn coi như chuyện nhỏ. Chưa biết phải trái mô tê, răng rứa sao nhưng trên đời người như thía quá hiếm, quá hiếm. Anh cu nào bây giờ có nói xấu luật sư họ Cù cũng chỉ là kẻ đâm thuê chém mướn hạ nhân đâu phải người tử tế. Lạ gì thói đời.

Việc Thủ tướng có bực mình hay coi đó chỉ là chuyện bình thường như tương phải có mốc thì không biết, nhưng đám phó thường dân đang nghĩ rằng đã là Thủ tướng nghĩa là đại trượng phu rồi, ai lại đi làm cái chuyện nhỏ nhen tiểu nhân trả thù cá nhân như thế. Trộm nghĩ, chẳng qua là có đứa tiện nhân muốn “chơi” Thủ tướng mà làm cái việc này mà thôi. Bắt tiến sỹ Cù Huy lấy cớ “bênh” Thủ tướng vừa bịt mồm tiến sỹ “Cù” lại khéo léo “chơi” kín Thủ tướng, đúng là một mũi tên hạ được 3 con truym. Chỉ có anh Tàu mới xứng mưu anh hùng xạ điêu như thế.

Quay lại chiện bác Thuyết, bác Bình đại biểu Quốc hội với các bác nhân sỹ có lòng với dân với nước không quản tấm thân ngàn vàng mà nói ra những điều tâm huyết ích nước lợi dân thật đáng muôn phần kính trọng. Nhưng dám nói như vậy là các bác cũng có “chống lưng” chứ dân chúng tôi không có quyền miễn trừ, hở ra là công an đến hỏi thăm là khốn nạn cho vợ con nheo nhóc. Mà công an họ thính lắm. Dân ta từ xưa đến nay vốn khâm phục công an một cây. Đối với các anh, không có việc gì khó, chỉ sợ không dám liều, không có việc gì liều, mọi việc đều có cách chiều.

Ví như vụ công an bắt Tiến sỹ Cù Huy trong khách sạn đó, thật là chấp cả bọn FBI của Mẽo, cả bọn KGB ngày còn mồ ma nước Nga xã hội chủ nghĩa cũng ngả nón bái phục, gọi công an ta là Đại sư phụ. He he.

Gian kế này chỉ cỡ các pác hảo lớ, hảo lớ Hoa nam tình báo cục mới dám so bì. (Hay đó chính là mưu của các pác ý thì không biết). Tất nhiên làm sao mọi việc có thể tròn vành vạnh như quả trứng đà điểu được, việc ghép ảnh ghép ung gì đó là tại cậu đánh máy bên phòng Khoa học hình sự sơ xuất tý thôi. ( Nhưng trong nhà bảo nhau thì phải nói thật, cái vụ cắt dán, ghép nối này lỗi nhiều lần quá, phải rút kinh nghiệm sâu sắc đi cái, không thì mang tiếng lắm, nó là thể diện quốc gia chứ có phải chuyện chơi đâu, hay là các chú cố tình “lỗi” để làm mất mặt Thủ tướng với bác Hồng Anh thì bảo).

Nhưng nói gì thì nói, đúng là trăm dâu đổ đầu Mười tạ. Bác Mười tạ đâu đáng đem ra tùng xẻo như thế. Các cụ mình hay nói thế này: “Nấu mâm cỗ độc một mình tay nem tay chạo, ăn thì ăn cả làng, chả may rớt vung bể nồi, tội lại đổ lên đầu cái thằng tay dao tay thớt, thật chả biết điều. Chưa kể lắm kẻ đã chỉ chờ ăn lại còn phá thối, người ta vừa dóm bếp đã có thằng tổ chức cho người hắt nước. Thật là không biết liêm sỷ để chỗ nào”.

Hôm vừa rồi ngồi chờ khách, ế ẩm quá đọc được bài “Phỏng vấn GS Vũ Khiêu xung quanh vấn đề quyền hạn và trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng” thấy có đoạn này:

Phóng viên: Giáo sư đánh giá như thế nào về sự điều hành của Chính phủ và của bộ máy Nhà nước từ trên xuống dưới?

Giáo sư Vũ Khiêu: Sự điều hành của Chính phủ vẫn theo tinh thần của mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Cho nên, có thể nói rằng kết quả điều hành của Chính phủ cũng là kết quả chung của mối quan hệ mật thiết giữa Chính phủ với Đảng và Chính phủ với nhân dân. Trong việc quản lý đất nước ngày nay, Thủ tướng là người chịu trách nhiệm chính nhưng Thủ tướng lại là Ủy viên Bộ Chính trị. Đây là một thuận lợi khiến cho Thủ tướng thường xuyên sinh hoạt với Bộ Chính trị, dễ dàng tiếp thu ý kiến tập thể Bộ Chính trị để vận dụng trong lĩnh vực hoạt động của mình. Ngược lại, Bộ Chính trị cũng thường xuyên hiểu được việc làm của Chính phủ. Chính vì thế mà thành quả của Chính phủ cũng có thể coi như là thành quả của Đảng và trách nhiệm của Chính phủ gắn liền với trách nhiệm của Đảng.

Nói các bác bỏ quá cho chứ, xem xong bài phỏng vấn đó, xích lô tôi tự nhiên nhớ ngày trước hễ nhà nào có con gái chửa hoang các cụ lại bảo: “mày là đồ con nhà năm cha ba mẹ” ngẫm ra không thể trách các cụ là ngoa ngoắt.

Mai Xuân Dũng

21-11-2010

Theo Blog Mai Xuân Dũng

]]>
0
Đào Tuấn <![CDATA[Của ai? Bao nhiêu? Và ai giám sát?]]> http://hungviet.org/blog/?p=18898 2010-11-20T20:15:14Z 2010-11-20T20:15:14Z Có 3 câu hỏi đã được đặt ra sau Đại lễ 1000 năm: Chi phí cho Đại lễ hết bao nhiêu? Ai sẽ là người kiểm tra giám sát sự đúng-sai, hiệu quả, hay không hiệu của của những khoản chi này? Và số tiền đó là tiền của ai?

Dân đóng tiền và dân được biết

Câu hỏi thứ 3 đã được trả lời. Bộ trưởng Vũ Văn Ninh có văn bản gửi các đại biểu QH nói: Tiền cho Đại lễ là từ Ngân sách Trung ương, từ Ngân sách địa phương, là tiền hảo tâm đóng góp các cá nhân, tổ chức….Tiền ngân sách đương nhiên là tiền thuế do nhân dân đóng góp. Và tiền hảo tâm nào thì cũng là tiền của nhân dân và việc sử dụng không đúng, hoặc lãng phí, ngoài trách nhiệm trước nhà nước, trước pháp luật, còn có tội trước mồ hôi nước mắt của đồng bào.

Đại biểu QH Nguyễn Lân Dũng đã chính thức gửi chất vấn đến Bộ trưởng Bộ Tài chính đề nghị xác định lại thông tin rằng “chi phí cho Đại lễ lên đến 90.000 tỷ đồng và việc mua 2.000 viên rubi từ châu Phi để lắp mắt cho 1.000 con rồng dùng làm tặng phẩm”. Bộ trưởng Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch đã có 7 phút trả lời trước QH. Bộ Tài chính có hẳn văn bản trả lời. Cả Bí thư Thành uỷ lẫn Chủ tịch UBND TP Hà Nội đều đã được hỏi rất nhiều lần, cùng với một câu “Chi phí Đại lễ hết bao nhiêu?”. Nhân dân quan tâm đến câu chuyện tiền nong cho Đại lễ và họ được quyền biết. Các vị đại biểu dân cử được quyền hỏi. Và, báo chí được quyền thông tin về khoản tiền này. Đây là một đòi hỏi chính đáng trong một xã hội mà cả Đảng, Nhà nước, Chính phủ luôn khẳng định sự minh bạch chính là một trong những biện pháp hữu hiệu chống tham nhũng và là chìa khoá làm trong sạch bộ máy nhà nước.

Có món quà nào dành riêng cho Chủ tịch?

Tuy nhiên, Đại lễ đã qua được hơn 1 tháng, chưa có bất cứ ai, dù là người đứng đầu Chính phủ, được biết số tiền thực chi cho Đại lễ là bao nhiêu. Nhân dân chỉ được khẳng định rằng cả Thành phố, lẫn các bộ, ngành đều đã “rất tiết kiệm”. Bộ trưởng Hoàng Anh Tuấn thì khẳng định nói 4-5 ngàn tỷ cho Đại lễ là không phải. “Bộ đã rất tiết kiệm, từ đầu năm đến giờ số chi so với dự toán mới đạt 57,5%, số thực chi mới 88 tỷ đồng. Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh thì đưa ra một con số cụ thể hơn, rằng: Thủ tướng đã duyệt cấp 218,4 tỷ đồng. Và “Các khoản chi từ ngân sách các địa phương, trong đó chủ yếu là Hà Nội, thẩm quyền quyết định chi theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước do HĐND, UBND địa phương quyết định”.

Lãnh đạo TP Hà Nội bác bỏ thông tin chi phí cho Đại lễ lên đến 94 ngàn tỷ đồng, chiếm đến 1/10 GDP như tin đồn. Chủ tịch Nguyễn Thế Thảo nhận định con số này “không có cơ sở hay căn cứ gì cả”. Và “Đại biểu nghe thấy thế thì nói thế, chỉ là cảm tính, không định lượng”. Nhưng con số cụ thể là bao nhiêu thì còn phải đợi…tổng hợp. Đến bao giờ tổng hợp xong thì chưa rõ. Bởi ngay cả câu hỏi đơn giản về vấn đề dự toán ban đầu là bao nhiêu, dù được các nhà báo kiên trì nhắc đi nhắc lại nhiều lần nhưng Chủ tịch Hà Nội đã không đưa ra câu trả lời nào. Ông thậm chí còn nhấn mạnh “không bình luận gì khi đang quyết toán”, và đề nghị “đừng hỏi thêm về cái đó nữa”. Các nhà báo sau đó đã viết công khai rằng: Người đứng đầu chính quyền Thủ đô cũng im lặng trước câu hỏi: “Có rất nhiều quà tặng được gửi đến nhân dịp Đại lễ, có món quà nào dành riêng cho Chủ tịch thành phố?”.

Kinh phí chi cho Đại lễ là bao nhiêu có thể ngài Chủ tịch chưa biết, vì còn phải chờ… tổng hợp. Nhưng chuyện “dự toán ban đầu” yếu tố bắt buộc phải có đối với bất cứ khoản chi nào dùng tiền ngân sách chẳng lẽ ông cũng không thể công khai?

Nếu như câu hỏi cụ thể về con số chi phí mà còn khó trả lời thì câu hỏi hiệu quả, nhất là đối với những khoản mục rất khó đánh giá như “Công tác tuyên truyền” thì còn khó biết nhường nào. Và ai, bao giờ sẽ đứng ra kiểm tra, giám sát để xác tín trước nhân dân rằng những khoản chi đó thực sự tiết kiệm, thực sự hiệu quả, thực sự minh bạch?

Đào Tuấn

20-11-2010

Theo Blog Đào Tuấn

]]>
0
J.B. Nguyễn Hữu Vinh <![CDATA[Linh mục Phan Khắc Từ có vợ con không: Tôi đã trình bày với đấng bề trên của mình]]> http://hungviet.org/blog/?p=18892 2010-11-20T19:42:37Z 2010-11-20T19:42:37Z

Trên các mạng điện tử, câu chuyện được nhiều người bàn bạc cách công khai và nghiễm nhiên có nhiều người cho rằng: Linh mục Phan Khắc Từ, chánh xứ Nhà thờ Vườn Xoài có vợ con. Thậm chí còn rất chi tiết rằng bà vợ là Ngô Thanh Thủy với hai con gái… với nhiều tình tiết và thông tin cụ thể về những hoạt động của họ.

Nhiều người phẫn nộ kêu lên: “Nếu linh mục công khai có vợ như vậy, tại sao Hồng Y Phạm Minh Mẫn lại không có ý kiến gì, bởi Tòa TGM Sài Gòn chấp nhận việc đó như chuyện bình thường, hay chỉ vì lý do tế nhị nào đó?”

 Nhiều tiếng nói, bài viết của giáo dân, tu sĩ, thậm chí cả Linh mục đã đề cập vấn đề này và đề nghị làm rõ vấn đề này, đưa vấn đề này ra trước Đại Hội Dân Chúa để mọi vấn đề được rõ ràng làm yên lòng tín hữu.

Vậy, linh mục Phan Khắc Từ có vợ con hay không?

Linh mục Phan Khắc Từ: Không

Trong khi đó, linh mục Phan Khắc Từ chưa có lời minh định nào cho vấn đề trực tiếp đến cá nhân ngài, cũng như TGP Sài Gòn coi đó chỉ là chuyện không đáng quan tâm.

Để hiểu rõ vấn đề thực hư, tôi đã có cuộc điện thoại trực tiếp đến Linh mục Phan Khắc Từ, Chánh xứ Vườn Xoài.

Trong cuộc điện thoại, linh mục Phan Khắc Từ cho rằng việc đó là không đúng và ngài sẽ trình bày với Đức Hồng Y của ngài.

Khi tôi đặt câu hỏi:

- Nếu việc đó là không có thật, thì ngài hoặc Đức Hồng Y phải có ý kiến để mọi vấn đề được rõ ràng và các tín hữu khỏi hiểu lầm.

Ngài trả lời:

- Đức Hồng Y làm cái gì thì chuyện đó là chuyện của ĐHY, tôi không can thiệp vô. Phần tôi, tôi sẽ trao đổi với ngài rành mạch về vấn đề đó… Tôi sống giữa dân, dân đâu có tha cho mấy cái chuyện như thế, nói chuyện như giỡn, sống giữa năm sáu ngàn giáo dân, hàng ngày lễ lạy rồi chuyện nọ chuyện kia không phải chuyện giỡn được. Dân này tối mắt tối mũi hết cả hay sao mà làm như thế được?

Tôi không trình bày với ai, mà tôi sẽ bày với ĐHY Tổng Giáo phận, người có trách nhiệm trên mình. Tôi luôn luôn vâng phục đấng bề trên của mình.

Tôi hỏi:

- Trước những thông tin bất lợi ảnh hưởng đến các linh mục, đấng bậc như thế, đấng bản quyền phải có ý kiến phải không ạ?

Ngài trả lời:

- Trước đây tôi đã nói với ngài một lần rằng thôi thì ngài cũng an tâm. Lần này tôi sẽ trình bày rành mạch hơn tất cả mọi chuyện để ngài nắm, bởi nó liên quan đến vị trí của ngài.

Cũng trong cuộc nói chuyện với tôi qua điện thoại linh mục Phan Khắc Từ cho rằng “đây là mục đích nhằm cố tình để đẩy tôi đi, mà thực ra tôi cũng không phải cố tình để nắm lấy họ đạo. Nhưng khi đã đặt vấn đề đến như thế này thì tôi sẽ trình bày với ĐHY cho đầy đủ”.

Tôi bày tỏ ý kiến:

- Nếu vấn đề đó có thật, mình phải cũng cảm, nhưng nếu không có thật thì mình phải có ý kiến vì điều đó không phải là chuyện nói chơi. Vấn đề này thì chính con người đó và đấng bản quyền phải có ý kiến rõ ràng minh bạch vì nó liên quan đến ít nhất là một con người, là quyền của họ chứ không thể đưa việc nọ việc kia lên nói tùm lum như thế được?

Linh mục Phan Khắc Từ đồng ý và nói:

- Tôi sẽ cũng phải rành mạch thôi, cũng phải rành mạch với ngài chứ, ngài là bề trên của mình mà.

Câu hỏi cuối cùng cho vấn đề này là:

- Về phương diện cá nhân, thì ngài khẳng định điều đó như thế nào thưa cha?

- Tôi nói là không có, không có vợ có con gì cả. Còn con thì nếu mà nói thì có nhiều, tôi có một trăm mấy chục đứa khuyết tật mà, nhiều lắm.

- Tức là nói như kiểu  là “Hồ Chí Minh – người không con mà có triệu con” phải không ạ?

Cười.

Cuộc điện thoại này được thực hiện cách đây 10 tháng, với thời gian đó hẳn Linh mục Phan Khắc Từ đã có điều kiện để trình bày mạch lạc với Đức Hồng Y bề trên của ngài vì trước đây ngài đã “âm thầm chịu đựng” nhưng bây giờ thì sự việc “đã quá quắt”.

Như thế, sự thật của vấn đề hiện này Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn là người biết rõ.

Cũng chính vì vậy, có cần thiết chăng ĐHY Phạm Minh Mẫn có một thông tin rõ ràng về vấn đề này để cộng đồng dân Chúa khắp nơi không còn phải nghi ngại, hoang mang về một sự kiện hiếm có nhưng ảnh hưởng lớn đến hình ảnh Giáo hội Việt Nam, đặc biệt là TGP Sài Gòn. Và việc này không có gì khó khăn, nếu nói đúng thực tế sự việc như vốn có.

Linh mục Chân Tín, những tài liệu và thông tin khác: Có

Tuy linh mục Phan Khắc Từ khẳng định như vậy và đã khẳng định sẽ báo cáo với ĐHY từ đầu năm, nhưng đến tận bây giờ, các phương tiện truyền thông, báo chí công giáo, thư chung, bải viết… của TGP Sài Gòn đến nay vẫn không có một thông tin cụ thể cho vấn đề này.

Đặc biêt nhiều người đã đặt vấn đề này một cách

Hồng Y Phạm Minh Mẫn và linh mục Phan Khắc Từ tại báo "Công Giáo và Dân Tộc" - cơ quan của UBĐK T.P Hồ Chí Minh

nghiêm túc và gay gắt đối với sự cần thiết làm rõ trước cộng đồng dân Chúa trước Đại hội Dân Chúa sắp khai mạc.

Đến nay, thông tin linh mục Từ có vợ vẫn lan truyền trên mạng, trong các cuộc nói chuyện giữa các giáo dân… và không một lời giải đáp.

Hỏi một đấng bậc nhiều am hiểu về việc này, vị này cho tôi biết rằng việc đó là có thật, bà Thủy và con cái không còn ở Việt Nam mà đã được bố trí sang Mỹ định cư? Vì vậy bây giờ linh mục Từ nói  là không có vì không ai thấy vợ con của ngài, nhưng thực tế là đã có điều đó.

Những thông tin này làm hoang mang nhiều người, lẽ nào một người vẫn mang áo linh mục lại có thể nói ngược thực tế sự thật?

Lục lại những thông tin có nguồn gốc và có con người cụ thể, tôi thấy có ngồn tin khẳng định linh mục Từ có vợ con thật như sau:

- Ngày 15.08.1989, một nhóm tu sĩ và giáo dân đã có “Tâm thư gửi Hội Đồng Giám mục Việt Nam”.

Tâm thư này bao gồm những người được nhiều người biết đến tên tuổi như J.B Đoàn Thanh Liêm, Phê rô Nguyễn Cao Đàm, Petrus Hoàng Toán, Đ. Hồ Công Hưng, Fx Vũ Sinh Hiên, Alf. Phạm Quốc Tuyên, Giuse Nguyễn Kim Long, Etienne Chân Tín, A. Ngô Văn Ấn, Thomas Trần Văn Du, Petrus Hồ Minh Diệp, Petrus Nguyễn Quốc Thái, Joachim Trung Dũng, J.B Phạm Minh Thiện, Maria Phúc Châu, Anton Nguyễn Hoàng Hương, Phaolo Nguyễn Ngọc Lan.

Về vấn đề linh mục Phan Khắc Từ, tâm thư viết như sau: “Chúng con cũng xin và đề nghị Đức Hồng Y và quý Đức Cha thẳng thắn loại bỏ ra khỏi hàng ngũ các linh mục đã biến chất, mang nhiều tai tiếng về tác phong, vi phạm trầm trọng và bán công khai đến lời khấn độc thân, đã có vợ con mà vẫn thi hành mục vụ. Trường hợp cụ thể là trường hợp ông Phan Khắc Từ, Tổng thư ký của tổ chức gọi là “Ủy ban đoàn kết công giáo yêu nước” TP HCM. Ông này đã từng công khai tổ chức ăn thôi nôi và sinh nhật con ông, nhưng chỉ công khai về phía Mặt trận, Đảng và Nhà nước, còn thì vẫn qua mặt Giáo hội để vẫn tiếp tục làm chánh xứ giáo xứ Vườn Xoài. Đây không phải là trường hợp duy nhất, đặc biệt trong số các linh mục đã mất hết uy tín trước cộng đoàn, làm cho nhân dân chán nản mỗi khi phải cùng dâng lễ với các linh mục ấy. Những người gọi là linh mục này chỉ làm hại cho Giáo hội và cho cả Nhà nowsc nếu họ lãnh một chức vụ nào đó trong xã hội với cương vị là linh mục”( Trích Nói cho con người – Linh mục Chân Tín, trang 70, 71).

Sau khi lá thư của 20 giáo dân được gửi đi, đã có hai buổi họp tại Tòa Tổng Giám mục Sài Gòn về lá thư này.

Trong buổi họp ngày 25.9.1989, bao gồm Đức TGM, Đức cha Phụ tá, linh mục Nguyễn Huy Lịch, Linh mục Huỳnh Công Minh, ông Nguyễn Đình Đầu, Linh mục Mai Xuân Hậu, Linh mục Chân Tín có nội dung được ghi lại như sau:

- Phan Khắc Từ (phát biểu -BBT): “Đây là một phong trào đánh vào UBĐKCG yêu nước… Từ xác nhận là sau giải phóng đã xin thôi làm linh mục để cưới cô Ngô Thanh Thủy ở Bình Thạnh, nhưng Đức Tổng can ngăn và Nhà nước muốn Từ làm mặt trận, nên Từ thôi…” (Trích sách đã dẫn trang 78).

-Chân Tín: “Nguyễn Huy Lịch nói sao không đem vấn đề P.K Từ bàn trong ban cố vấn vì chúng ta gặp nhau hàng tuần mà lại viết thư gởi tùm lum. Chân Tín nói rõ: “Ba bốn năm trước đây, khi cán bộ đảng viên (sinh viên đấu tranh cũ) và bạn của cô Ngô Thanh Thủy ở Bình Thạnh, khoe với Chân Tín là anh P.K. Từ đã tiến bộ, có vợ con, ăn thôi nôi linh đình mà theo yêu cầu của tổ chức tiếp tục làm linh mục để làm công tác, Chân Tín đã nói cho N.H. Lịch biết để trình bày cho Đức Tổng giải quyết và vài tuần sau, Chân Tín cũng đã nói riêng với Phan Khắc Từ, đề nghị anh ấy rút ra khỏi chức vụ chánh xứ Vườn Xoài. Nhưng anh Từ nói đó là yếu đuối của anh trước 1975, chỉ đến thăm con. Chân Tín quả quyết đó là chuyện mới đây, là vấn đề hiện tại như bạn cô Thủy cho biết”.

“Còn nội vụ anh Từ, anh em giáo dân không có ý moi móc đời tư của linh mục, những yếu đuối của con người linh mục, mà vì anh Từ công khai phía Đảng và nhà nức việc anh có vợ con, mà lại giấu về phía Giáo hội. Như vậy là ‘chơi cha’ Giáo hội, anh em không thể chấp nhận điều đó, nên anh em muốn công khai phía Giáo hội để Đức Tổng dễ giải quyết vì lâu này Đức Tổng vì lý do này nọ, không dám giải quyết”.

(Trích SĐD trang 79, 80)

Tại cuộc họp ngày 2.10.1989, chỉ thiếu linh mục Mai Xuân Hậu, nội dung cuộc họp được viết lại như sau:

“ Huỳnh Công Minh: Vụ anh Từ xảy ra cách đây 3-4 năm, anh ấy thôi rồi, sao Chân Tín lại đặt vấn đề bây giờ?

- Chân Tín: Tôi đã đặt vấn đề anh Từ như thế nào thì như tôi đã trình bày. Còn nay là giáo dân đặt ra, nên hỏi họ vì lý do gì?… Giáo dân tháy đó là bôi bác, là gian xảo, không thể chấp nhận được nên mới có lá thư kia”. Trích SĐD trang 83).

Như vậy, qua những nội dung được phản ảnh trên cuốn sách “Nói cho con người” của Linh mục Chân Tín – một vị linh mục năm nay đã 90 tuổi và “Chân Tín nhắc lại cho anh Từ là đứng về mặt cá nhân, Chân Tín không có gì đối nghịch với Từ cả và Chân Tín đã có thái độ tế nhijnhuw CHân Tín đã nói trong buổi họp”.

Đôi điều suy nghĩ

 Như vậy, câu chuyện ảnh hưởng không nhỏ này trong Giáo hội Công giáo là câu chuyện rất đơn giản nhưng thông tin thì vẫn trái ngược nhau 180 độ.

Trong thời buổi thông tin hiện nay chỉ cần một lá thư, một lời xác định từ Tòa TGM TGP Sài Gòn mà trực tiếp là bề trên của Linh mục Phan Khắc Từ thì ngay lập tức, những thông tin gây bất lợi trên được xác định thực hư rõ ràng.

Nhưng, tại sao đã mấy chục năm nay, điều đơn giản đó cũng không có được? Trong khi TGP Sài Gòn là nơi trả lời các vấn đề khá nhanh như việc“tượng Đức Mẹ chảy nước mắt” chẳng hạn, huống chi một chuyện quan trọng tày trời như vậy trước cộng đồng dân Chúa.

Điều gì đằng sau để TGP Sài Gòn khó khăn xác định và trả lời công luận đến thế?

Trong Tài liệu làm việc của ĐHDC xác định vai trò của truyền thông như sau: “Đất nước Việt Nam đang chứng kiến sự bùng nổ của truyền thông. Gắn liền với sự bùng nổ này là một nền văn hoá mới với những phương tiện truyền thông mới, ngôn ngữ mới, kỹ thuật mới và tâm lý mới. Thật vậy, truyền thông ngày nay là một sức mạnh có khả năng hướng dẫn suy nghĩ và lối sống của quần chúng, đem đến nhiều điều tốt đẹp nhưng đồng thời cũng có thể gây ra những tác hại và chia rẽ”.

Nhưng ở đó chưa nói đến một cơ chế phát ngôn, minh định những vấn đề có sự tác động cách cụ thể, thiết thực với đời sống Đức Tin và những vấn đề cần làm để tạo nên một Giáo hội mạnh mẽ và hiệp thông mà chỉ mới nói đến “Cần đầu tư nhân sự và phương tiện làm việc, đồng thời cần có sự cộng tác và hợp lực giữa các giáo phận và các dòng tu cũng như giữa các giáo phận với nhau”.

Thực ra, chất lượng đường hướng và nội dung thông tin là điều cần đầu tư hơn nhiều những phương tiện và nhân sự.

Bởi nếu có hàng ngàn website nhưng nếu không có những nội dung thông tin cần thiết hữu ích cho đời sống Giáo hội và xã hội, thì cũng chỉ sinh ra để làm cảnh mà thôi, trái lại là một thứ vô bổ và lãng phí thời gian, tiền bạc của Giáo hội, của Giáo dân.

Ngược lại, nếu không có một đường hướng cập nhật nội dung thông tin theo chân lý, sự thật… là con đường đi của Giáo hội thì có khác chi gần 800 tờ báo hiện nay đang tràn ngập khắp nơi và đầy dẫy trên mạng, tất cả chỉ là phương tiện, công cụ của đảng, mọi hoạt động bất chấp tất cả với phương châm “Còn Đảng, còn mình” và nhiều khi làm cho xã hội bị ngộ độc thông tin.

Trước thềm Đại hội Dân Chúa, trên website Đại hội Dân Chúa ghi giải đáp những thắc mắc về trang phục dự Đại hội, gửi xe ở đâu, linh mục dự ĐH được tặng những gì…

Nhưng, những thắc mắc cần giải đáp nhất như vấn đề linh mục Phan Khắc Từ có vợ hay không đã và làm nhức nhối lòng tín hữu kéo dài hàng chục năm nay thì không được nói tới.

Thực ra, những vấn đề đơn giản như gửi xe, trang phục, quà tặng… đâu phải là cốt lõi của Đại Hội Dân Chúa mà mọi tín hữu đều quan tâm.

Vậy ĐHDC có cần bổ sung thêm những nội dung này vào đường hướng cho ĐH hay không?

Để có thể là một Đại hội Dân Chúa thiết thực, đích thực, thiết nghĩ điều cần thiết phải xác định cụ thể: Để làm gì, cho ai và bắt đầu từ những việc nhỏ nhất cần thiết làm trong sạch đời sống, niềm tin giáo hội công giáo.

Hà Nội, ngày 20/11/2010

J.B Nguyễn Hữu Vinh

Theo Blog Nguyễn Hữu Vinh

]]>
3
Gioan Lê Quang Vinh <![CDATA[Xin cúi xuống những mảnh đời]]> http://hungviet.org/blog/?p=18889 2010-11-20T19:29:09Z 2010-11-20T19:29:09Z

Tôi đau lòng nghe anh cất giọng rất cao to

Rằng không thế lực nào bắt ta bỏ đạo!

Lại đọc đó đây lời anh đạo mạo:

“Thời bây giờ ta giữ đạo khỏe re”

Có những người dù phải sống xa quê

Vẫn canh cánh nỗi lòng bên xứ cũ

Sao anh ở trong lòng quê lam lũ

Mà chẳng hề chia bớt những vết đinh?

Anh chưa một lần thắp nến cầu kinh

Cho anh em Thái Hà gian lao oan trái

Cho Cồn Dầu buồn đau đi tìm lẽ phải

Cho Tam Tòa, dân máu đổ nhuộm hồng?

Chung quanh anh bao sắc thắm hương nồng.

Làm sao thấy xa kia nhiều khổ lụy.

Anh có nghe Đồng Chiêm và Loan Lý.

Và có buồn ngày Đức Tổng bước đi?

Ngày lại ngày anh dâng lễ ngắm suy,

Đời bảo bọc trong chăn êm nệm ấm.

Rồi hội họp, rồi bao linh đình yến tiệc

Anh có nghe ngoài kia đói lạnh Lazarô?

Anh bảo bây giờ sắc lệnh chẳng còn đâu

Không ai bảo dân mình phải quá khóa.

Nhưng anh ơi nơi Tây nguyên rừng trút lá

Khóc chủ chăn bị đối xử hung tàn.

Sao kể hết cho anh bao đau khổ lan tràn?

Hãy ra đi, khỏi tháp ngà cùng châu báu,

Hãy quên đi những lời ru huyền ảo.

Để cúi mình trên bất hạnh của dân.

Gioan Lê Quang Vinh, VRNs

Theo Nữ Vương Công Lý

]]>
0
Linh mục Chân Tín <![CDATA[Hội đồng Giám mục Việt Nam với “Ủy ban Đoàn kết Công giáo”]]> http://hungviet.org/blog/?p=18886 2010-11-20T19:23:33Z 2010-11-20T19:23:33Z Đã đến lúc cần đặt vấn đề: Hội đồng Giám mục phải có thái độ nào với Ủy ban Đoàn kết, một tổ chức chính trị đã được Đảng Cộng sản nặn ra, vào năm 1983, để làm tay sai cho Đảng Cộng sản, giúp Đảng theo dõi và không chế nội bộ Giáo hội Công giáo Việt Nam?

 Ủy ban Đoàn kết là con đẻ của Ủy ban Liên lạc Công giáo yêu Tổ quốc mà Cộng sản đã khai sinh ở Bắc vào năm 1955.

 Một đại hội hình thức đã đề cử vào Ủy ban Liên lạc linh mục Vũ Xuân Kỷ làm chủ tịch, linh mục Hồ Thành Biên phó chủ tịch, các linh mục Nguyễn Thế Vịnh, Phạm Quang Phước và Võ Thành Trinh làm ủy viên. Chính 3 linh mục này sẽ là những người Đảng Cộng sản đưa ra làm nòng cốt cho Ủy ban Đoàn kết ở miền Nam sau năm 1975. Ủy ban liên lạc bị cha Phạm Hân Quynh chỉ trích nặng nề. Do đó, cha Quynh đã bị bắt và bị đi học tập cải tạo trong 30 năm. Ủy ban Đoàn kết là một tập họp của “Ủy ban liên lạc” ở ngoài Bắc và nhóm “Công giáo và Dân tộc” trong Nam, với hai tờ báo tuyên truyền cho Đảng Cộng sản là tờ “Người Công giáo” ở phía Bắc và tờ “Công giáo và Dân tộc” ở phía Nam.

 Đảng Cộng sản Việt Nam coi Ủy ban Đoàn kết như đại diện cho người Công giáo Việt Nam. Nhà nước đòi phải có ý kiến của Ủy ban Đoàn kết trong những sinh hoạt của Giáo hội, như phong chức, thuyên chuyển. Nhưng ý kiến của Ủy ban Đoàn kết lại là ý kiến của Đảng Cộng sản đã mớm cho họ. Như trong vụ phong thánh 117 vị tử đạo (1988), Ủy ban Đoàn kết tuân lệnh Đảng Cộng sản, tổ chức khắp nơi những hội thảo, để đòi Giáo hội hủy bỏ việc phong thánh hoặc loại các vị tử đạo ngoại quốc. Cũng Ủy ban Đoàn kết đã làm cái loa cho Đảng chống việc Tòa Thánh đặt Đức cha Huỳnh Văn Nghi làm Giám quản Giáo phận Sài Gòn, khi Đức cha Nguyễn Văn Bình bị bệnh nặng sắp chết (1993).

 Riêng Đức Tổng Nguyễn Văn Bình, vì sợ Đảng Cộng sản,

Hồng Y Phạm Minh Mẫn và linh mục Phan Khắc Từ tại báo "Công Giáo và Dân Tộc" - cơ quan của UBĐK T.P Hồ Chí Minh

nên đã dựa vào Ủy ban Đoàn kết để làm một vài việc nho nhỏ. Trong một cuộc phỏng vấn cho báo “Il Segno dell’Attualità” (15.4.1990), Ngài nói: “Ủy ban này do Chính phủ thành lập. Vấn đề là luôn luôn có những khó khăn, tại vì Ủy ban rất dễ can thiệp vào những công việc thuộc thẩm quyền các Giám mục. Về điểm này, chúng tôi luôn luôn kháng nghị trước chính quyền. Cũng phải biết rằng chính quyền không điểm xỉa đến những cơ cấu của Giáo hội. Thành ra, người ta dựa vào Ủy ban Đoàn kết để giải quyết một số vấn đề. Chẳng hạn, nếu tôi muốn tập hợp tín hữu mà xin phép Nhà Nước, Nhà Nước không cho. Nhưng nếu tôi nhân danh Ủy ban để triệu tập tín hữu, Nhà nước sẽ dễ dàng cho phép. Thành ra vì lợi ích của Giáo hội đôi khi chúng tôi bị buộc phải dùng Ủy ban. Dĩ nhiên, tôi biết sự bó buộc ấy không bình thường, tuy có những khó khăn. Riêng tôi, tôi không chống lại Ủy ban Đoàn kết”.

 “Vì lợi ích Giáo hội” Đức cha Bình phải lụy thuộc Ủy ban, và như thế, ủng hộ Ủy ban. Và Giáo hội mất tự do. Hơn nữa, Đức cha Bình đã lập một Ban cố vấn gồm 6 người, mà 4 là những người đầu não của Ủy ban: linh mục Huỳnh Công Minh, linh mục Nguyễn Huy Lịch, linh mục Phan Khắc Từ, ông Nguyễn Đình Đầu (Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Sài Gòn). Còn lại 2 người ngoài Ủy ban, đó là hai cha Mai Xuân Hậu và Chân Tín. Đức cha Bình còn đặt linh mục Huỳnh Công Minh, người đã tuyên bố đặt niềm tin vào Đảng Cộng sản làm Tổng đại diện. Như thế, Đức cha Bình đã đặc biệt ủng hộ Ủy ban Đoàn kết. Qua Ủy ban Đoàn kết, Đảng Cộng sản đã cột chặt Đức cha Bình vào chế độ. Do đó, sau này đám tang Đức cha Bình đã được Đảng, Nhà nước, Mặt trận… tổ chức rất trọng thể. Cũng như vừa rồi, , Đảng, Nhà nước và Mặt trận cũng đã tổ chức rất long trọng lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Đức Tổng Bình (1910-2010).

 Nhưng cũng có những Giám mục mạnh mẽ lên án Ủy ban Đoàn kết. Trước hết, có Đức Tổng Nguyễn Kim Điền. Ngài dám nói thẳng nói thật, đấu tranh cho tự do tôn giáo. Ngay từ ngày cộng sản cướp chính quyền ở miền Nam, Đức Tổng Nguyễn Kim Điền đã viết trong một lá thư gửi Dân Chúa Giáo phận Huế: “Tù ngục và chết chóc, chủ chăn của anh chị em hôm nay sẵn sàng và vui lòng đón nhận như phần thưởng Chúa ban sau 25 năm làm Giám mục và 22 năm được phục vụ Giáo phận Huế”. Và cuối cùng, ngài đã anh dũng hy sinh cho công lý và hòa bình, để bênh vực người nghèo, người cô thế, bênh vực tôn giáo, bênh vực Giáo hội Công giáo. Ngài đã bị đầu độc và đã chết ngày 8.6.1988.  Nữ y tá chích thuốc độc giết ngài đã phải thú nhận là được lệnh giết ngài (xem hồ sơ của cha Nguyễn Văn Lý).

 Một vị khác là Đức cha Nguyễn Huy Mai, Giám mục Ban Mê Thuột. Ngài cấm thành lập Ủy ban Đoàn kết trong Giáo phận ngài. Do đó, ngài bị Nhà nước làm khó dễ, không cho ra khỏi Tòa Giám mục.

 Mới đây, có Đức Tổng Giám mục Hà Nội, Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt, đã can đảm đứng về phía người nghèo, người bị bóc lột, bị áp bức. Ngài đã nói thẳng vào mặt bạo quyền Cộng sản: “Tự do tôn giáo là quyền chứ không phải là ân huệ xin-cho”. Do đó, cộng sản đã quyết định đẩy ngài khỏi Tổng Giáo phận Hà Nội và cuối cùng, không biết Hội đồng Giám mục Việt Nam đã đồng ý với Đảng Cộng sản thế nào, đã báo cáo thế nào với Vatican, nên Đức Tổng Kiệt buộc phải từ chức Tổng Giám mục Hà Nội.

 Về nguyên tắc, trước sự lộng hành của Ủy ban Đoàn kết trong 27 năm qua (1983-2010), trước một tổ chức chính trị của Đảng Cộng sản phá đạo, Hội đồng Giám mục không có quyền ủng hộ tổ chức chính trị này. Tòa Thánh, qua lá thư của Hồng y Angelo Sodano gửi cho Đức cha Nguyễn Minh Nhật, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam (25.5.1992) đã nhắc lại nguyên tắc: cấm giáo sĩ tham gia tổ chức chính trị của một đảng phái. Do đó, Hội đồng Giám mục cần phải ra lệnh cho các linh mục rút ra khỏi Ủy ban Đoàn kết để làm tròn sứ mạng phục vụ mọi thành phần trong đất nước. Đàng khác, đã đến lúc Hội đồng Giám mục phải thẳng thắn và can đảm nhìn vào sự thật thực tế, để nghiêm túc vạch trần những lộng hành của Ủy ban Đoàn kết trong 27 năm làm tay sai cho Cộng sản phá hoại Giáo hội, cản trở việc rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu cho mọi người.

 Lm Chân Tín, DCCT

 19/11/2011

 Theo Nữ Vương Công Lý

]]>
0
Mẹ Nấm <![CDATA[Bí mật điều tra]]> http://hungviet.org/blog/?p=18880 2010-11-20T19:08:44Z 2010-11-20T19:08:44Z Đình chỉ 6 công an vụ clip ‘nuy toàn tập’
http://vietnamnet.vn/tinnhanh/201011/dinh-chi-CB-sai-pham-trong-clipgai-mai-dam-nuy-toan-tap-948216/
 
7 cảnh sát liên quan đến vụ “Clip bắt mai dâm” bị đình chỉ
http://vnexpress.net/GL/Phap-luat/2010/11/3BA23356/
 
Theo kết quả điều tra ban đầu, vụ bắt quả tang mua bán dâm trong đoạn video trên xảy ra ngày 29/6/2010 tại Thị xã Cẩm Phả. Thượng úy Trần Văn Hoàn thuộc Đội CSĐT tội phạm về TTXH CATX Cẩm Phả trong khi làm nhiệm vụ đã quay những hình ảnh nói trên bằng điện thoại di động- thông tin đăng tải trên báo điện tử VTC.
 
 Tuy nhiên, sau đó thượng úy Hoàn chuyển video cho một cán bộ cùng đội là Hà Quang Long. Cứ chuyển qua chuyển lại mấy lần cho nhiều người. Đến ngày 15/11, clip này lại được chuyển đến Nguyễn Thanh Tùng, Đội tham mưu tổng hợp và Nguyễn Mạnh Hưng, Đội an ninh nhân dân (thuộc Công an thị xã Cẩm Phả). Sau đó, không hiểu vì lý do gì mà clip này bị lan tràn trên mạng internet.Thiếu tướng Nguyễn Hữu Tước, giám đốc Công an tỉnh Quảng Ninh cho biết, các cán bộ liên quan đến clip này giải trình chiếc điện thoại được sử dụng để quay và có chứa đoạn clip trên sau đó bị hỏng, được mang ra tiệm sửa chữa điện thoại để sửa nên không biết có bị “rò rỉ” từ đây hay không- thông tin được đang tải trên báo TTO.

Hiện tại, công an tỉnh Quảng Ninh đã tạm đình chỉ 6 chiến sĩ công an liên quan đến vụ việc trên và khẩn trương hoàn tất hồ sơ để tiến hành khởi tố vụ án.

 Trả lời trên báo NLĐ, ngày 18/11, Thiếu tướng Đỗ Kim Tuyến, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục phòng chống tội phạm, Bộ Công an, đã yêu cầu lực lượng cảnh sát vào cuộc kiểm tra nguồn gốc clip cũng như các đối tượng trong clip tai tiếng này.

Thiếu tướng Tuyến cũng cho rằng, việc đối xử với các đối tượng bị bắt quả tang mua bán dâm như vậy là hành vi xúc phạm nhân phẩm con người, không thể chấp nhận được.
 Sáng 19/11, trả lời trên Bee.net, chị Nguyễn Thị Linh, phụ trách biên tập hình ảnh của Kênh truyền hình Invest TV nhận định, clip được quay tự nhiên, hình ảnh liền mạch, không bị đứt quãng, không có sự can thiệp của công nghệ cắt ghép.

Trước đó, VietNamNet đã đưa tin về việc xuất hiện đoạn clip có độ dài 1 phút 30 giây ghi lại những hình ảnh vô cùng phản cảm. Những người được cho là “người bắt quả tang” thì mặc thường phục và có những lời lẽ vô cùng thô tục với các cô gái. Còn các cô gái thì không mảnh vải che thân, cố lấy tay che chỗ này thì hở chỗ khác.

Mặc dù chỉ lan tràn trên mạng được vài chục phút và bị xóa bỏ ngay sau đó, tuy nhiên, có khá nhiều thành viên kịp thời tải clip và đã gây ra nhiều ý kiến trái chiều từ phía dân cư mạng.

  • Anh Minh (Tổng hợp)

Theo luật sư Vũ Tiến Vinh, khi để lộ những hình ảnh nhạy cảm này ra bên ngoài, cá nhân được giao trách nhiệm có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về tội “cố ý làm lộ bí mật công tác” hoặc “vô ý làm lộ bí mật công tác”, tùy theo mức độ và ý thức chủ quan.

Còn người phát tán đoạn băng lên mạng sẽ bị xem xét trách nhiệm hình sự về “tội đưa trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet”.

Hoàng Khuê – Anh Thư

 ===> Hai tờ báo lớn đưa tin không đồng bộ, bắt 6 người có liên quan hay 7 người? “cố ý làm lộ bí mật công tác” hoặc “vô ý làm lộ bí mật công tác” mà ông luật sư nhắc đến ở trên là thế nào, tức là???????

  Vấn đề phải nhìn nhận ở đây là sự lạm quyền của người thi hành công vụ đã vượt quá trí tưởng tượng và tính nhân bản của con người.
 
 Cái phương châm “Chỉ biết còn đảng, còn mình”, có phải đã cho người ta cái quyền chà đạp lên nhân phẩm của tất cả những người còn lại?
Tôi nghĩ rằng, không phải chỉ đến khi đoạn clip này được tung ra, người ta mới thấy mặt trái của vấn đề, đây chỉ là một tai nạn, và từ tai nạn đó, liệu đã đủ để nhiều người khác tỉnh táo nhận ra bản chất vấn đề chưa?
Tối qua, Bí thư tỉnh ủy Quảng Ninh cũng đã trực tiếp yêu cầu các đơn vị liên quan phải xử lý nghiêm, làm rõ trách nhiệm của cán bộ sai phạm. Nguyên nhân để lộ bí mật điều tra và phát tán clip đang được Công an Quảng Ninh khẩn trương điều tra.

(Theo VNExpress)
  
Kêu gọi chống tiêu cực, phát triển ngành trên tinh thần phê và tự phê mà ông Bí thư Tỉnh ủy phán một câu xanh rờn như thế, liệu ông quan tâm đến việc xử lý sai phạm và hướng đến một xã hội phát triển nhân văn hơn, hay chủ yếu xử lý để mang tính răn đe?
 
 Làm rõ trách nhiệm sai phạm gì nữa? Thế chưa đủ hay sao?
 

Điều 121 (Bộ luật Hình sự). Tội làm nhục người khác

  1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:
    a) Phạm tội nhiều lần;
    b) Đối với nhiều người;
    c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
    d) Đối với người thi hành công vụ;
    đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.
  3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
Cứ xét theo luật mà xử, và phải cộng thêm tình tiết, biết luật mà vẫn phạm luật, phải xử lý nghiêm để tránh tình trạng tái phạm tương tự làm mất hình ảnh của hàng ngũ công an (như các bạn thanh niên chống phản động đang rêu rao đấy).
 
 Một người bạn của mình thắc mắc :
 Không biết định nghĩa cụm từ “bí mật điều tra” là cái quái quỷ gì nữa, tức là các anh không có quyền công khai sỉ nhục người khác nhưng các anh vẫn được quyền bí mật sỉ nhục một cách nghiệp vụ???
 
 Có ai trả lời được câu hỏi này không?
 
 Mẹ Nấm
20-11-2010
 
Theo Blog Mẹ Nấm
 
 

 

]]>
0
Nguyễn Thanh Dòng <![CDATA[Có nên thành lập Đảng Việt Nam bên cạnh Đảng Cộng Sản Việt Nam?]]> http://hungviet.org/blog/?p=18875 2010-11-20T18:52:50Z 2010-11-20T18:52:50Z

Ta từng đêm ngày ăn ngủ không ngon, trằn trọc băn khoăn giận phận nước chìm nổi điêu linh, lạc hậu, dân tình nghèo khổ túng bấn đất nước đầy giặc nội xâm và mất nước trước nguy cơ bành trướng của giặc Phương Bắc. Bởi chúng đang và đã xén dần từng vùng đất trên bộ và Hải Đảo của chúng ta cùng với cái “lưỡi bò chín đoạn” trên biển.

Thế hệ chúng tôi tưởng sẽ có ánh sáng lý tưởng văn minh của Đảng Cộng Sản dẫn đường chỉ lối, chúng tôi chỉ biết sống tốt và làm việc thật tốt để hiến dâng sức lực và trí tuệ cho Đảng, cho dân tộc, cho Đất nước, cho nhân dân và sẽ chẳng bao giờ có cảnh bất bình với xã hội mà phải cởi ấn từ quan về ở ẩn như xã hội bất công và thối nát thời cha ông xưa.

Nhưng hỡi ôi! Vậy mà nay ta phải than thở rằng: Ta cùng các người sinh phải thời loạn lạc lớn lên gặp buổi gian nan hết hai cuộc kháng chiến vệ quốc đánh Pháp, đánh Mỹ lại đánh quân PônPôt biên giới phía Tây Nam, quân bành trướng trên biên giới phía Bắc giờ lại đầy rẫy quân nội xâm vơ vét, tham nhũng với bản mặt bá quan cửa quyền, hèn mọn.

Để rửa nhục cho Tổ quốc, thề không đội trời chung với quân phương Bắc khi chúng còn dã tâm lấy đất ta, chiếm đảo ta và định gom cả biển đông của ta thành của chúng. Nói như Bác Lê Hiếu Đăng: “Đã đến lúc tất cả chúng ta, cán bộ, đảng viên, nhân dân phải có ý kiến, không thể nhân nhượng, không thể dĩ hòa vi quý với những cái sai cái nguy hại cho đất nước, cho dân tộc” và thực sự: “Chúng ta không có gì phải sợ vì chúng ta trong sáng chúng ta thực tâm yêu nước thương nòi, chúng ta làm đúng theo pháp luật và hiến pháp”.

Trong suốt lịch sử phát triển, người dân Việt Nam chưa bao giờ có quyền thảo luận và phúc quyết về Hiến Pháp. Nhà nước chúng ta hiện nay là dạng nhà nước tập quyền, cách tổ chức nhà nước này không tối ưu bởi thường dẫn đến chuyên chế, lạm dụng quyền lực và tha hóa (nói cách khác là đã lạc hậu).

Thời đại ngày nay đa số các nước văn minh có thể chế tối ưu trên thế giới người ta phân ra ba nhánh lập pháp, tư pháp và hành pháp (tức là ta hay gọi kiểu xã hội dân sự trên nguyên tắc nhà nước pháp quyền – tam quyền phân lập). Đây là thành quả của văn minh nhân loại ngoài cách này cho đến nay loài người vẫn chưa nghĩ ra kiểu tổ chức nhà nước nào hữu hiệu và ưu việt hơn.

Vậy mỗi nhân sỹ trí thức (cả trong và ngoài nước), mỗi đảng viên cộng sản, mỗi cán bộ cách mạng đã nghỉ hưu hoặc đang tại chức có trách nhiệm trước vận nước, trước tương lai và tiền đồn của dân tộc phải tính như thế nào đây???

Để xứng danh với lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, để xứng danh là con Rồng cháu Tiên, con Lạc cháu Hồng và không hổ thẹn với lịch sử oai hùng của cha ông đi trước, để thể hiện chí khí xã thân vì Tổ Quốc vì nhân dân.

Nên chăng sau đại hội lần thứ XI Đảng cộng sản Việt Nam năm 2011, nếu thực sự không có chuyển biến mới, căn bản, tích cực về hiến pháp, về một nhà nước Pháp Quyền với một xã hội dân sự trên nguyên tắc tam quyền phân lập. Tôi kính đề nghị nên thành lập Đảng Việt Nam bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam (việc làm này không sai theo quy định của hiến pháp năm 1946). Thiết nghĩ chính giới trí thức, nhân sĩ (trong và ngoài nước) và lão thành cách mạng là những đại diện cho tinh hoa của dân tộc phải dẫn dắt nhân dân Việt Nam đi trên con đường trí tuệ của văn minh nhân loại để: “Sánh vai các cường quốc năm châu” trong tương lai gần nhất có thể được.

Bởi vì: Bộ Chính Trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam hầu như không tiếp thu căn bản những góp ý tâm huyết của các lão thành Cách mạng và giới trí thức trong và ngoài nước đau đáu vì vận nước hôm nay: như Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, Võ Văn Kiệt, Trần Phương,Vũ Khoan, Nguyễn Trọng Vĩnh, Đồng Sỹ Nguyên, Trần Xuân Bách, Nguyễn Đức Tâm, Nguyễn Nam Khánh, Nguyễn Trung, Hà Sĩ Phu, Mai Liên Trực, Nguyễn Văn An, Hoàng Tụy, Đỗ Xuấn Thọ, Nguyễn Đình Lộc, Nguyễn Hộ, Trần Độ, v.v…

Cổ nhân có câu “Bảy mươi học bảy mốt” như Nguyên Thủ Tướng Chu Dương Cơ nói trong bài hiểu đời chỉ rõ: “Xử lý một vấn đề thì nên nghe già”. Nhưng những ai là người không hề nghe, chia sẻ, thấu hiểu, trả lời mà quay lại đàn áp bắt bớ bỏ tù những ý kiến và quan điểm phản biện tiến bộ mà bất bạo động???

Tôi kính đề nghị thành lập Đảng Việt Nam (Bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam) mục tiêu trước hết, trên hết cho độc lập Dân tôc, tự do dân chủ và hạnh phúc cho Nhân dân với tôn chỉ mục tiêu chính danh, rõ ràng. Ban chấp hành lâm thời nên lập những tiêu chí cần và đủ khách quan, toàn diện để mọi thành viên đăng ký qua mạng kết nạp Đảng viên mới của Đảng Việt Nam. Đảng Việt Nam là chính đảng chân chính, là đảng chính danh Việt Nam có tôn chỉ mục đích điều lệ rõ ràng: Tập hợp toàn thể những người Việt Nam (trong và ngoài nước), nguyện hi sinh và phấn đấu suốt đời phụng sự Tổ Quốc Việt Nam, phục vụ nhân dân Việt Nam vô điều kiện không mưu cầu lợi ích cá nhân cho gia đình và bản thân khi vận nước đang chìm nổi. Đặt lợi ích quốc gia, quyền lợi của nhân dân lên trên hết để xây dựng một Xã hội dân sự: “Công bằng, bác ái, dân chủ, văn minh”. Không có và không cho bất cứ một tổ chức, một Đảng phái, một cá nhân nào đứng trên hiến pháp và pháp luật như thể chế của đất nước hiện tại. Tôi tin chắc rằng với tiêu chí thượng tôn pháp luật và tình cảm trong sáng mở rộng cửa đón nhận những người con yêu nước của dân tộc, vì nghĩa lớn vào trong đội ngũ phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc, chắc chắn chỉ trong thời gian ngắn không những là hàng vạn, hàng chục vạn mà là hàng triệu, hàng chục triệu Đảng viên Đảng Viêt Nam sẽ đăng ký vào Đảng.

Tôi tự nguyện là một Đảng viên trung kiên của Đảng!

Nguyễn Thanh Dòng

Theo Dân Luận

]]>
2
Trần Quang Thành <![CDATA[Bãi miễn tư cách đại biểu quốc hội của ông Đinh Văn Hùng]]> http://hungviet.org/blog/?p=18871 2010-11-20T18:45:26Z 2010-11-20T18:45:26Z CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—–o0o—–

Ngày 18 tháng 11 năm 2010

Kính gửi : Ông NGUYỄN PHÚ TRỌNG

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAM 

Thưa Chủ tịch

Tôi là nhà báo Trần Quang Thành, nơi ở thường trú tại 207 phố Tô Hiệu, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, qua bức thư này đề nghị Chủ tịch Quốc hội xem xét một việc như sau :

Đinh Văn Hùng

Vào trung tuần tháng 10 năm 2010 mới đây, Hội nghị lần thứ mười ba Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Viêt Nam khóa X đã quyết định thi hành kỷ luật ông Đinh Văn Hùng, Ủy viên Trung ương, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình.

Thông báo của Hội nghị ngày 14/10/2010 ở mục 5 viết : Ban Chấp hành Trung ương đã xem xét và quyết định thi hành kỷ luật đồng chí Đinh Văn Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình bằng hình thức cảnh cáo, để đồng chí Đinh Văn Hùng thôi tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, nghỉ công tác để nghỉ hưu, do có các khuyết điểm, vi phạm:

(1) Với cương vị Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình, đồng chí chịu trách nhiệm chính về những khuyết điểm, vi phạm của Thường trực Tỉnh ủy trong việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, Quy chế làm việc và công tác cán bộ;

(2) Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, phương thức lãnh đạo của Đảng, Quy chế làm việc của Tỉnh ủy Quy định số 51-QĐ/TW của Ban Bí thư;

(3) Vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, cấp ủy viên và phẩm chất, đạo đức, lối sống.”

Ngoài chức vụ trong Đảng, ông Đinh Văn Hùng còn là Đại biểu Quôc hội khóa XII, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Bình, Ủy viên Ủy ban kinh tế của Quốc hội.

Trong Đảng, ông Đinh Văn Hùng đã mắc sai phạm nghiêm trọng đến mức phải nhận kỷ luật “bằng hình thức cảnh cáo, thôi tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, nghỉ công tác để nghỉ hưu.” Nhưng không phải đợi đến Thông báo của Hội nghị lần thứ mười ba của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X mà từ ngày 29 tháng 5 năm 2010, ông  Đinh Văn Hùng, đã là đối tượng chính trong một vụ án “Trộm cắp tai sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, liên quan đến đôi lọ lục bình có niên đại từ thế kỷ thứ 17-18 và một chiếc trống đồng 2.000 năm tuổi.

Trong khi công an đang tiến hành điều tra vụ mất cắp đôi lục bình ở Giáo xứ Hà Hồi thì chị Nguyễn Thị Nga – con gái ông Nguyễn Thế Võ (một chuyên gia đồ cổ) và anh Cao Trường Sơn – con rể Bí thư Tỉnh ủy Đinh Văn Hùng đã mang đôi lọ lục bình và một chiếc trống đồng đến Hà Nội nộp cho cơ quan điều tra.

Xác định tính chất nghiêm trọng của vụ việc, và căn cứ vào kết quả xác minh, ngày 29-5-2010, Đại tá Nguyễn Đức Chung – Trưởng phòng Cảnh sát điêu tra tội phạm về trật tự xã hội, Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Hà Nội đã ký quyết định khởi tố vụ án hình sự “trộm cắp tài sản” và “tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có” để điều tra theo thẩm quyền. Tại cơ quan điều tra, ông Nguyễn Thế Võ khai ông  Dương Minh Chính (trú tại 283 Trần Khát Chân, Hà Nội)  đã bán cho ông Đinh Văn Hùng chiếc trống với giá 1,2 triệu USD. Theo Cơ quan điều tra, đôi lọ mà ông Đinh Văn Hùng , Bí  thư Tỉnh ủy Ninh Bình mua của ông Nguyễn Thế Võ với giá 40 ngàn USD. chính là đôi lộc bình đã bị đánh cắp tại nhà thờ xứ Hà Hồi..

Câu hỏi được đặt ra là, Bí thư Tỉnh ủy Đinh Văn Hùng đã lấy đâu ra tiền để mua món đồ cổ trị giá hàng chục tỷ đồng? Và với  cương vị Ủy viên Trung ương Đảng,  Bí thư Tỉnh ủy, là Đại biểu Quốc hội ông Đinh Văn Hùng đã kê khai tài sản theo quy định của Đảng, của Nhà nước như thế nào?

Sau 4 tháng khời tố điều tra vụ án, Công an Hà Nọi gặp nhiều khó khăn, trở ngại, chưa khởi tố được bị can nào vì có đối tượng bị chêt đột ngột do tai nạn, có dối tượng lại đang biểu hiện bị bênh tâm thần, đặc biệt là đối tượng điêu tra như ông Đinh Văn Hùng lại thuộc diện Trung ương quản ly. Ông Đinh Văn Hùng là Ủy viên Trung ương Đảng, là Bí thư Tỉnh ủy Ông vẫn là đương kim Đại biểu Quốc hội khóa XII, được hưởng quyền miến trừ. Nếu không đựoc phép của Ủy ban Thương vụ Quốc hội thì Cơ quan thực thi pháp luật đâu có quyền khởi tố bị can đôi với ông mặc dù ông đang là đối tượng chính của vụ án. Thới hiệu khởi tố điều tra vụ án đến ngày 31/`10/2010 là hêt hạn.  Cơ quan cảnh sát điều tra Hà Nội đang gặp khó.

Thưa Chủ tịch

Những sai phạm nghiêm trọng của ông Đinh Văn Hũng đã qua rõ ràng, không còn đủ tư cách là Đại biểu Quốc hội.  Là một công dân, tôi đề nghị Chủ tịch Quốc hôị, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét khẩn cấp bãi miễn tư cách Đại biểu Quốc hội  của ông Đinh Văn Hùng. Đây là một thủ tục pháp lý cần thiết gỡ rào cản cho cơ quan thực thi pháp luật tiến hành các bước tiếp theo của vụ án hình sự “trộm cắp tài sản” và “tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có” để điều tra theo thẩm quyền.

Thưa Chủ tịch,

Vào cuối năm 2008 và đầu năm 2009, tôi có gửi thư tới Chủ tịch góp ý về hàng khẩu hiệu “Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm”  trang trí tại hội trương kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa XII là không đúng với nghi thưc lễ tân. Thư của tôi gửi đến Văn phòng Quốc hội, báo Đại biểu nhân dân cơ quan của Quốc hôi qua địa chỉ E-mail của hai cơ quan này để chuyển đến Chủ tịch. Quốc hội đã qua 12 kỳ hop ở hội trường mới có trang trí hàng khẩu hiệu “Đảng Cộng sản ViêtNam quang vinh muôn năm”. Không rõ Chủ tịch có nhận được thư của tôi hay không mà chưa thấy hôi âm. Hàng khẩu hiệu không phù hợp với nghi thức lễ tân hội trường kỳ họp Quốc hội vẫn tồn tại. Bới lý do đó bức thư này tôi nhở Ban biên tập báo điện tử Bauxite Việt Nam chuyển đên Chủ tịch. Báo điện tử Bauxite Việt Nam là tiếng nói có uy tín của giời trí thức và nhiều tầng lóp nhân dân trong xã hội Việt Nam ngày nay. Mong Chủ tịch thông cảm

Hy vọng đề nghị của tôi sớm được Chủ tịch và Ủy ban Thương vụ Quốc hội xem xét

Xin gửi Chủ tịch lời chào trân trọng.

Kính thư

Nhà báo Trần Quang Thành

Địa chỉ E-mail : hieudao9@gmail.com

]]>
1
Bằng Phong Đặng Văn Âu <![CDATA[Trả lời thắc mắc của ông Lê Hiếu Đằng]]> http://hungviet.org/blog/?p=18867 2010-11-20T18:30:09Z 2010-11-20T18:30:09Z

Ông Lê Hiếu Đằng

Mới đây, ông Lê Hiếu Đằng – một người Miền Nam bí mật hoạt động cho cộng sản nhằm tiếp tay Miền Bắc xâm lăng Miền Nam và trở thành viên chức cao cấp trong Đảng Cộng Sản Việt Nam – bày tỏ những thắc mắc đối với Đảng của ông ta qua các bài viết đăng trên trang mạng Bauxite Việt Nam. Tôi – một người lính Miền Nam thua trận trong cuộc chiến đấu chống lại cuộc xâm lăng của Miền Bắc và trở thành phó thường dân Hoa Kỳ – xin mạo muội giải đáp những thắc mắc của ông Lê Hiếu Đằng.

Có hai vấn đề trọng tâm khiến cho ông Lê nhức nhối. Đó là: “việc cho thuê đất rừng đầu nguồn và đại dự án bauxite”. Đối với ông Lê, chuyện con tầu Vinashin sụp đổ chỉ là chuyện nhỏ; chuyện rừng đầu nguồn và bauxite mới là vấn đề sinh tử. Ông Lê thẳng thắn đặt câu hỏi:

“Có ai đã ngăn cản các phương tiện truyền thông công bố kiến nghị trên? Nếu có, thì đó là tước quyền được thông tin của nhân dân – quyền được hiến pháp và pháp luật bảo hộ, như thế người ngăn cản đã vi phạm pháp luật của nước CHXHCNVN.”

“Nếu không phải như thế, thì tôi xin hỏi giới nhà báo nước ta: Tại sao các bạn phải sợ mà không dám đăng tải một kiến nghị có tầm quan yếu đến vận mệnh dân tộc, đã được lưu truyền khá lâu trên nhiều mạng, đã được chính thức gửi tới Quốc hội? Như thế có phải các bạn đã từ bỏ cái quyền quan trọng nhất của mình và cũng là yêu cầu cao nhất của nhân dân với các bạn: thông tin trung thực những gì liên quan đến lợi ích của người dân? Tôi tin rằng tờ báo nào mạnh dạn đăng tải Kiến nghị nói trên sẽ chẳng bị ai bắt tù, ngược lại sẽ được nhân dân quý trọng.”

Là một người trường kỳ đấu tranh để tiêu diệt chế độ dân chủ của Miền Nam hầu thể hiện lý tưởng (?) cộng sản và trở thành quan chức cao cấp trong Đảng, ông Lê tỏ ra khá ngây thơ khi đặt ra câu hỏi nêu trên. Mời ông Lê vào trang mạng dưới đây để đọc bài viết của nhà văn Dương Thu Hương thì sẽ rõ:

Phần 1: http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=7965

Phần 2: http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=7978

Sau Đệ Nhị Thế Chiến, Nga Xô xâm lăng các quốc gia Đông Âu, áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên các quốc gia đó và biến các quốc gia đó thành chư hầu của mình. Nghĩa là các quốc gia Đông Âu bị đô hộ bởi chủ nghĩa cộng sản. Cho nên khi ông Mikhail Gorbachev đề ra chương trình “perestroika” và “glassnot” thì các quốc gia Đông Âu vùng lên giành độc lập để thoát vòng nô lệ chủ nghĩa cộng sản. Trong khi ấy, Thực dân Pháp u mê và tham lam, không bắt chước Đế quốc Anh dần dần trao trả thuộc địa, khiến cho một số nhà cách mạng Việt Nam (do ông Hồ Chí Minh đứng đầu) rước chủ nghĩa cộng sản về để giải phóng Việt Nam ra khỏi sự đô hộ của Thực dân Pháp. Vì tự nguyện rước chủ nghĩa cộng sản, chứ không phải do ngoại bang áp đặt, cho nên dù chủ nghĩa ấy đã bị nhân loại ném vào thùng rác, nhưng người cầm quyền Việt Nam vẫn nhất mực duy trì bộ máy cai trị để nhốt toàn dân trong một nhà tù khổng lồ. Khi Liên Xô sụp đổ, Việt Nam quay sang ôm chân Trung Cộng, mặc dầu từng bị Trung Cộng xua quân đánh cho tơi bời hoa lá vào năm 1979.

Tình trạng suy đồi về mọi mặt trên đất nước Việt Nam hiện nay không phải là sự ngẫu nhiên. Nó là kết quả tất yếu của một đảng chính trị được xây dựng trên sự đạo đức giả, lừa đảo, dối trá, phản trắc, nói một đàng làm một nẻo, tàn bạo, bất nhân … Người cầm quyền cộng sản hôm nay say mê ngôi báu, danh vọng với bất cứ giá nào dù phải bán Tổ Quốc cho ngoại bang, cũng không phải là ngẫu nhiên. Đừng trách cứ họ trở nên thoái hóa. Họ là phiên bản mang đầy đủ tính chất của những người lãnh đạo tiên khởi: Cha nào con nấy! Người cha đứng đầu những người lãnh đạo tiên khởi đó, là ông Hồ Chí Minh.

Ông Hồ không phải là người yêu nước. Ông từng làm đơn xin vào học trường Thuộc địa để phục vụ Thực dân Pháp. Ông Hồ bí mật ra lệnh tay chân, bộ hạ thủ tiêu các lãnh tụ quốc gia yêu nước chủ trương đấu tranh giành độc lập dân tộc, như Trương Tử Anh, Lý Đông A, Huỳnh Phú Sổ và bán nhà cách mạng cùng quê Nghệ An với ông – cụ Phan Bội Châu – cho Pháp.

Ông Hồ không phải là người cộng sản chân chính, vì trình độ kiến thức của ông lúc bấy giờ chưa đủ sức để hiểu triết thuyết “vô sản chuyên chính” của Karl Marx và Engel. Ông Hồ chỉ là sản phẩm của một dân tộc bị nô lệ đi tìm công danh sự nghiệp cho bản thân bằng phương tiện cộng sản. Những nhà cách mạng quốc gia ái quốc không thành công vì họ chỉ được trang bị bằng tấm lòng yêu nước. Ông Hồ đưa cuộc “cách mạng” đến thành công (cho đảng cộng sản, chứ không phải cho nước Việt Nam) vì ông Hồ được đào luyện trong lò cộng sản về các bộ môn tình báo, phản gián, đấu tranh khuynh đảo. Vì vậy, sau khi đánh đuổi Thực dân Pháp xong, ông Hồ đã thiết lập một chế độ “công an trị”, người người báo cáo, nhà nhà báo cáo lẫn nhau. Cha mẹ, vợ chồng, anh em tố giác lẫn nhau. Cái khẩu hiệu “độc lập, tự do, hạnh phúc” đã làm mờ mắt các nhà trí thức yêu nước, nhưng ngây thơ! Đã gọi là “chuyên chính” thì làm gì có dân chủ? Không ai có thể hiểu nổi những người học rộng như bác sĩ Nguyễn Khắc Viện (con trai Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm), Phạm Giao (con trai Thượng thư Phạm Quỳnh), Hùm Xám Đặng văn Việt (con trai Thượng thư Đặng văn Hướng) vẫn cúi đầu phục vụ ông Hồ, người giết bố mình một cách nhục nhã, dã man, tàn bạo! Phải chăng hàng ngũ trí thức đã biến thành “cô đồng, cậu đồng” dưới bàn tay phù thủy Hồ Chí Minh? Ông Hồ chịu phận làm đàn em thống thuộc các anh Hai (Nga), anh Ba (Tầu), nhất cử nhất động đều phải báo cáo lên trên thì làm sao có độc lập, có tự do?

Ông Hồ là người thông minh quỷ quyệt, gian hùng, nhiều mánh khóe, thủ đoạn, nhưng không có tầm nhìn xa cho tương lai dân tộc. Kết nghĩa anh em môi hở răng lạnh với một dân tộc luôn có dã tâm đồng hóa dân tộc mình, là ngu dốt. Hai nước anh em trong phe Xã hội Chủ Nghĩa – Nga Sô, Trung Cộng – từng dàn quân hai bên bờ Hắc Long Giang để thanh toán lẫn nhau, nhưng ông Hồ vẫn cố bám vào cái gọi là tình huynh đệ quốc tế, thay vì quay đầu về dân tộc, là người mù quáng.

Ông Hồ không học lịch sử, nên ông mới coi Hoa Kỳ là đế quốc thực dân như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… Trong Đệ Nhị Thế Chiến, Hoa Kỳ đánh bại phe trục Đức – Ý – Nhật, nhưng chính Hoa Kỳ mang lại tự do, thịnh vượng cho các quốc gia thua trận. Nếu ông Hồ không đi theo con đường cộng sản, không cam tâm làm tên lính tiền phong cho Nga Tầu nuôi ý đồ đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản, nhuộm đỏ toàn cầu, Hoa Kỳ sẽ không đưa quân sang Việt Nam đánh quân xâm lược cộng sản ở Miền Nam và không dội bom Miền Bắc. Tai họa chiến tranh Việt Nam là do ông Hồ gây nên.

Ông Hồ thi hành chính sách bạo ngược rập khuôn như Trung Cộng, giết cả những người đã nuôi mình, giết cả đồng chí xả thân vì mình. Khi thất bại trong đấu tố cải cách ruộng đất, ông Hồ làm bộ nhỏ vài giọt nước mắt cá sấu, không nhìn nhận lỗi lầm của chính mình, không nhận trách nhiệm của mình, lại truất chức Tổng Bí thư của Trường Chinh. Tiếp theo đó, ông đày đọa, bỏ tù, bỏ đói những nhà trí thức trong phong trào Nhân văn Giai phẩm từng theo ông chống Thực dân Pháp. Những trí thức văn nghệ sĩ này chỉ xin được tự do sáng tác, chứ không hề có tư tưởng chống lại chủ nghĩa cộng sản. Ông Hồ thù hận trí thức vì mang mặc cảm không có bằng cấp. Do bản chất vô cảm trước bất hạnh của đồng bào mình, ông Hồ đã đào tạo những người lãnh đạo thừa kế gồm những kẻ ít học, không tim, không óc.

Ông Hồ phạm hai trọng tội gây tác hại lâu dài trên đất nước. Đó là: Chính sách bao tử trị và ngu dân. Người xưa thường nói “đói thì đầu gối phải bò” và “bần cùng sinh đạo tặc”. Chế độ dùng miếng ăn để hèn hóa kẻ bị trị, ai ngoan ngoãn thì được phát khẩu phần; ai tỏ ra ương ngạnh thì cúp hộ khẩu. Hàng ngày mọi người chỉ nghĩ đến miếng ăn, nên nhân cách càng ngày càng sa sút là vì vậy. Dân ta bị Tầu đô hộ một ngàn năm, bị Tây đô hộ một trăm năm. Nhưng dân ta đã vùng dậy được, ấy là nhờ cái khí phách nẩy sinh tinh thần bất khuất. Ông Hồ đã dùng miếng ăn nhằm triệt tiêu khí phách để ông dễ bề cai trị, tất nhiên phải đến ngày cái đảng do ông dựng lên bị nô lệ ngoại bang. Cái hèn do ông Hồ gieo trong dân đã lây lan sang người cầm quyền. Bưng bít thông tin, cấm đoán quyền tự do ngôn luận, tư tưởng, triệt hạ người trí thức là đường lối cai trị của thực dân xâm lược; chứ không phải là người lãnh đạo có nghĩa vụ đưa dân trí đất nước mình theo đà văn minh nhân loại. Cho nên những hạng ngu dốt như Lê Duẩn, Đỗ Mười mới có thể ngoi lên hàng lãnh tụ. Còn người cán bộ nào có trí tuệ, có lương tri đều bị hãm hại. Mới đây, Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên “kiến nghị” rằng Đại hội XI, Đảng nên chọn người tài đức để lãnh đạo là một đề nghị mang tính hoang tưởng mò kim đáy biển.

Ông Hồ bách hại tôn giáo, phá hủy chùa chiền, nhà thờ, miếu mạo tức là ông chủ tâm hủy diệt truyền thống văn hóa đạo đức của tổ tiên. Hai tôn giáo lớn: Phật giáo lấy lòng từ bi, Thiên Chúa lấy tính bác ái làm cứu cánh đều bị Hồ xem là thuốc phiện, tất nhiên chỉ còn lại Cái Ác, Cái Vô Luân lên ngôi.

Hồ Chí Minh là tên giả (ngụy) trong thời kỳ hoạt động bí mật để tránh tai mắt của mật thám Pháp. Khi đã trở thành Chủ tịch Nước, ông Hồ không lấy lại tên Nguyễn Sinh Cung hay Nguyễn Tất Thành do cha mẹ đặt. Khi viết Hiến Pháp năm 1946, ông sao chép các điều khoản về quyền con người giống như Hiến Pháp của các nước dân chủ Âu Mỹ; nhưng trong thực tế thì không có một điều khoản nào được ông thi hành. Tất cả những việc làm của ông Hồ đều là giả nhân, giả nghĩa. Thâm chí ông giả danh Trần Dân Tiên viết sách ca ngợi mình. Văn minh nhân loại trải qua những thời kỳ đồ đá, đồ đồng… Ông Hồ đã đưa văn minh Việt Nam đến thời kỳ… ĐỒ ĐỂU. Ngày nay ở Việt Nam, cái gì cũng đểu, như bằng cấp giả, hàng hóa giả, thuốc men giả, dự án công trình giả để rút ruột… là thành quả do ông Hồ mang lại. Chẳng lẽ ông Lê Hiếu Đằng đi theo cộng sản đã lâu mà không nhận ra điều đó hay sao?

Ông Hồ Chí Minh đã ra người thiên cổ. Không ai có thể vực ông dậy để hài tội. Nhưng đường lối cai trị của Hồ đã gây nên hậu quả ngày hôm nay. Đảng Cộng sản vẫn bắt buộc cán bộ, nhân dân học tập tư tưởng và noi gương đạo đức của Hồ thì nói đến “Đổi Mới” cũng chỉ là khẩu hiệu giống như cái khẩu hiệu “Độc lập, Tự do, Hạnh phúc” mà thôi! Tôi chỉ nêu ra một số sự kiện trong hàng hà sa số tội ác của ông Hồ, để chứng minh cho ông Lê Hiếu Đằng hiểu rằng tình trạng Đất Nước ngày hôm nay tồi tệ về mọi mặt không phải là sự xuống cấp hay tha hóa của người lãnh đạo kế tục. Nếu ông Lê Hiếu Đằng ngồi vào chiếc ghế của ông Nguyễn Minh Triết, ông Trương Tấn Sang (những cán bộ cộng sản nằm vùng hoạt động nội thành với ông xưa kia) thì ông cũng không thể làm khác hơn họ được. Ông công nhân hãng Ba Son Nguyễn Hộ được ở vào vị trí Thủ tướng như Võ văn Kiệt thì cũng ký Nghị Định 31/CP như thường mà thôi! Bằng cớ cho thấy rằng chỉ có những cán bộ lãnh đạo đã nghỉ hưu mới thốt lên lời phê bình đường lối của đảng đã bị… chệch hướng! Thủ tướng Võ văn Kiệt về hưu rồi mới nói được một câu: “Nhắc đến ngày 30 Tháng 4 thì có một triệu người vui, một triệu người buồn…”!

Ông Lê Hiếu Đằng quở trách các nhà báo không làm tròn chức năng của mình đối với nhân dân là một sự quở trách quá đáng! Là đảng viên cộng sản, ông Lê phải biết rõ hơn ai hết sự khủng bố của Đảng rùng rợn đến mức nào?! Nhà văn nổi tiếng ngang tàn như Nguyễn Tuân cũng phải thú nhận “sở dĩ tao còn sống được đến ngày hôm nay là vì tao… biết sợ”. Không một người cầm bút nào tự nguyện biến mình thành bồi bút. Sở dĩ họ trở thành con chó của Ivan Pavlov, là vì chế độ đã cưỡng bức họ như vậy. Nhà báo không phải là siêu nhân. Họ cũng có bao tử, nên họ phải ép mình bên lề phải để bảo vệ… nồi cơm cho vợ, cho con và cho bản thân. Hãy thương xót họ!

Câu hỏi mà ông Lê Hiếu Đằng nên đặt ra như thế này thì hy vọng còn nghe được: “Những ông Tướng đang là Tư lệnh Quân Khu dưới tay có các sư đoàn được trang bị đầy đủ súng ống, đạn dược, Tổ Quốc đang lâm nguy trước nạn giặc nội xâm (tham nhũng), trước mưu đồ Hán hóa của Phương Bắc, tại sao các ông khoanh tay ngồi yên? Những anh hùng đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào biến đi đâu mất hết rồi? Phải chăng đô la, bơ sữa, rượu ngon, gái đẹp đã làm rũ liệt các sợi thần kinh biết xấu hổ, cơ bắp rồi?”. Đấy mới thực sự là những đối tượng mà ông Lê nên đặt câu hỏi. Còn những anh nhà văn, nhà báo, nhà trí thức trói gà không chặt, không có một tấc sắt trong tay, không có “một cục đất ném con chó” thì làm được cái gì? Chắc người cựu cán bộ nội thành Lê Hiếu Đằng biết rõ điều đó hơn ai hết?!

Những người cộng sản có quyền lực trong tay là từ họng súng, họ không phải là những người “do dân, bởi dân, vì dân” thì không bao giờ họ sẽ làm điều gì vì phúc lợi của nhân dân. Họ còn được ông Tổng Bí thư Trường Chinh Đặng xuân Khu dạy: “Đảng cộng sản cướp chính quyền bằng bạo lực thì Đảng cộng sản sẽ giữ chính quyền bằng bạo lực”. Những người lãnh đạo đảng cộng sản hôm nay đã răng rắc tuân thủ lời dạy của ông Trường Chinh không sai một nét. Do đó, tôi không một chút ngạc nhiên khi thấy những cuộc đàn áp một cách man rợ các giáo dân, các dân oan khiếu kiện, các thanh niên nam nữ mặc áo thun mang hàng chữ “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam”, các nhà phản kháng ôn hòa… Tôi không tin người đang có chức, có quyền, có tiền mà có lương tri, có lòng yêu nước, có dũng cảm để làm điều gì lợi ích cho nhân dân. Chỉ khi nào họ về hưu thì may ra có một số người còn bàn bạc, góp ý với Đảng những điều tử tế mà thôi!

Trung Cộng dời cột mốc biên giới, lấn chiếm thác Bản Giốc, biển đảo chỉ tác hại cho Việt Nam một phần nào. Trung Cộng bỏ tiền ra mua lãnh đạo Việt Nam để dành cho chúng độc quyền khai thác nhôm mới là thủ đoạn ghê gớm. Tây nguyên là cao điểm chiến lược của toàn cõi Đông Dương. Khai thác quặng nhôm với lý do kinh tế chỉ là bề mặt. Thực chất là Trung Cộng chuẩn bị đặt những quả bom nổ chậm trên nóc nhà Việt Nam. Đó là hành vi của kẻ cướp kê súng vào mang tai nạn nhân để buộc nạn nhân phải làm theo mệnh lệnh của chúng. Trung Cộng tuyên bố hung hăng ở Biển Đông cũng chỉ là diện để cho cả thế giới dồn chú tâm vào đó, nhằm che mắt thiên hạ không nhìn thấy Việt Nam đang bị cấy sinh tử phù. Khi những hồ chứa bùn đỏ hoàn thành, Việt Nam đừng hòng dựa vào thế lực của Hoa Kỳ và thế lực của các nước trong khối ASEAN làm gì được để giúp mình.

Bởi vậy, dù cho kiến nghị xin Đảng Cộng sản ngừng khai thác Bauxite do các ông Nguyễn Huệ Chi, nhà giáo Phạm Toàn, tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng và nhóm IDS phổ biến được một triệu người ký đi nữa thì cũng không thể nào buộc Đảng Cộng sản ra lệnh ngừng được. Vì có một số phần tử Bộ Chính trị, Ban Chấp Hành Trung Ương đã bị những con sinh tử phù hàng tỉ đô la nhập vào máu rồi. Do đó, họ mới mạnh dạn bảo rằng đó là chính sách lớn của Đảng! Hỏi ra Đảng là ai, thì chẳng ai có câu trả lời!

Nếu ông Lê Hiếu Đằng và những người Miền Nam đi theo cộng sản Miền Bắc xâm lăng Miền Nam cảm thấy hối hận vì mình đã trót “đánh Mỹ cứu nước”, góp phần tạo nên tình trạng suy đồi mọi mặt hôm nay thì chỉ còn cách vận động ông Tướng Tư Lệnh Quân Khu nào đó đủ dũng cảm, đủ lòng yêu nước sai lính hốt hết mấy ông lãnh đạo bị Trung Cộng cấy sinh tử phù trong Bộ Chính Trị, trong Ban Chấp Hành Trung Ương, rồi đem lên máy bay ra biển thả hết xuống thì mới mong phá cái thế cờ bí do Trung Cộng cài đặt mấy chục năm nay. Hãy noi gương Đài Loan, Nam Hàn, Nhật Bản thắt chặt “hữu nghị” với Hoa Kỳ thì sợ gì mấy anh Tầu bán chạp phô? Còn ông Lê lên tiếng quở trách những người cầm bút thì thứ nhất là tội nghiệp cho họ và thứ hai là ông ngầm khoe cái khí phách dũng cảm của ông từng bị Tòa án Mặt trận Vùng III của Ngụy lên án tử hình khiếm diện mà ông không hề sợ hãi thôi.

Tương lai dân tộc Việt Nam hoàn toàn tùy thuộc những người đang sinh sống trên đất nước Việt Nam. Tôi bị cộng sản đẩy ra ngoài làm kẻ lưu vong, chấp nhận làm công dân Hoa Kỳ, chẳng còn có nghĩa vụ hay bổn phận gì mà xen vào nội bộ của Việt Nam. Chẳng qua đọc thấy ông trách oan những người cầm bút thì tôi mạo muội góp ý; chứ tôi không có âm mưu lật đổ chính quyền để tranh giành bất cứ một cái gì cả cho bản thân. Chỉ còn cách “hốt” bọn tay sai Trung Cộng thôi, thưa ông Lê Hiếu Đằng!

Houston, ngày 20 tháng 11 năm 2010

Bằng Phong Đặng văn Âu

Theo Đàn Chim Việt

]]>
1
Phạm Trần <![CDATA[Đã có khối người quay lưng với Đảng]]> http://hungviet.org/blog/?p=18862 2010-11-20T18:24:23Z 2010-11-20T18:24:23Z Nhiều cán bộ, đảng viên, kể cả những người giữ chức vụ cao và nhiều tầng lớp nhân dân đang hoang mang, dao động, mất niềm tin vào Đảng, bị các thế lực thù địch trong, ngoài và những phần tử cơ hội, tuyên truyền chống Đảng: đòi bỏ Chủ nghĩa Cộng Sản, bỏ điều 4 của Hiến pháp, đòi đa nguyên đa đảng, xuyên tạc lịch sử để xóa bỏ các thành tựu cách mạng” là nội dung bài viết của Giáo sư Tiến sĩ Trương Giang Long trên Tạp Chí Cộng Sản, cơ quan lý luận và chính trị của Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam và được báo điện tử của Đảng trích đăng lại ngày 17/11/2010.

Nhưng tại sao Đảng lại cho phát tán rộng rãi bài viết có nhiều điều “vạch áo cho người xem lưng” của Ts Trương Giang Long là điều chỉ có Ban Tuyên Giáo mới giải thích được, hoặc giả mọi chuyện đã quá rõ, ai cũng biết nên phải nói ra để xem có chống được không?

Bài viết có tựa đề “Ngăn chặn âm mưu “tự diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận trước thềm Đại Hội Đảng” của Trương Giang Long nói rằng: “Những thành tựu mà Đảng và nhân dân ta đạt được trong suốt hơn 20 năm qua là to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Uy tín và vị thế của Việt Nam đối với quốc tế ngày càng được củng cố và nâng cao”.
Nhưng: “Tuy đã đạt được nhiều thành tựu, nhất là những thành tựu quan trọng về kinh tế và đối ngoại, nhưng đất nước vẫn phải đang đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Sự nghiệp đổi mới, hội nhập sâu rộng, hợp tác đa phương đang diễn ra trong bối cảnh có nhiều diễn biến phức tạp, cơ hội và thách thức đan xen. Trong hoàn cảnh ấy, các thế lực thù địch cả trong và ngoài nước triệt để lợi dụng những yếu kém, bất cập, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”, tác động nhiều mặt nhằm đẩy mạnh quá trình “tự diễn biến hòa bình” trong nội bộ Đảng và trong xã hội ta”.

Bài này xuất hiện vào lúc có nhiều dấu hiệu trong xã hội và trong nội bộ Đảng chứng minh Đảng không có khả năng giải quyết những khó khăn kinh tế, nạn giàu nghèo cách biệt giữa thành phố và nông thôn càng ngày càng lan rộng; các tệ nạn xã hội, tham nhũng, tranh giành quyền lợi giữa các cấp lãnh đạo trong Đảng và Nhà Nước mỗi ngày một nghiêm trọng.

Ngoài ra người dân và đảng viên cũng chưa thấy dấu hiệu chủ quyền lãnh thổ và biển đảo được bảo đảm không bị Trung Quốc đánh chiếm. Tinh thần vô trách nhiệm của lãnh đạo Đảng và Nhà Nước đã được chứng minh qua các vụ làm ăn thua lỗ, làm thất thoát tiền đóng thuế của nhân dân vì các Doanh Nghiệp Quốc Doanh và Tổng Công Ty Nhà Nước. Trường hợp phá sản tiêu tán khoảng 120.000 tỷ đồng của Tập Đoàn Công Nghiệp Tàu Thủy Việt Nam (Vinashin) là một tỉ dụ.

Xã hội chủ nghĩa ơi! xin chào mi

Đảng cũng đang sợ bị tan hàng rã đám vì trong nội bộ vẫn chưa đồng thuận với nhau về 3 vấn đề nhức nhối:

1. Kiên định hay nên bỏ Chủ Nhĩa Mác-Lênin.

2. Đa nguyên đa đảng hay tiếp tục duy trì một đảng cầm quyền theo Điều 4 của Hiến pháp.

3. Có nên thẳng thắn cắt bỏ cái đuôi “theo định hướng xã hội chủ nghĩa” để làm kinh tế thị trường của chủ nghĩa Tư bản không?

Lý do chưa thống nhất quan điểm trong Đảng không khó hiểu bởi vì từ khi Đảng phổ biến để lấy ý kiến của cán bộ, đảng viên và người dân về 3 Văn kiện: Dự thảo cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Dự thảo chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2020 và Báo cáo chính trị. Đã có rất nhiều bài viết phản biện bác bỏ tất cả hay đòi Đảng phải sửa lại các Văn kiện tư duy lạc hậu, chậm tiến, phản dân chủ, ấu trĩ, phản khoa học không có sức làm đòn bẩy cho dân tộc tiến lên.

Thực tế chứng minh

Điều này còn được chứng minh qua cuộc họp của 20 cựu lãnh đạo cao cấp trong Chính Phủ và Đảng ngày 7/10/2010 vừa qua tại Hà Nội do Hội Khoa Học Kinh Tế Việt Nam và Trung Tâm Thông Tin Dự Báo Kinh Tế – Xã Hội Quốc gia phối hợp tổ chức.

Tại cuộc họp không tiền khoáng hậu này, tuy không được nhóm chủ trương phổ biến rộng rãi nhưng những lời phê bình, lên án các Văn kiện, Dự thảo của Đảng, nhất là đối với chủ trương kiên định chủ Nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lạc hậu, không còn phù hợp với đà tiến bộ của nhân loại.

Tài liệu cuộc họp được phổ biến trên một số mạng Internet cho biết trong số các trí thức tham dự có Giáo Sư Trần Phương – nguyên phó Thủ tướng Chinh phủ; ông Vũ Khoan – nguyên phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Giáo Sư Trần Đình Thiên – Viện trưởng Viện Kinh Tế, Giáo Sư Phan văn Tiệm – nguyên Thứ trưởng Bộ Tài Chính; Việt Phương – nguyên thư ký cố vấn của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Tiến sĩ kinh tế Lê Đăng Doanh; Bà Phạm Chi Lan, Nhà ngoại giao và kinh tế Nguyễn Trung – nguyên cố vấn của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, vân vân.

Ông Việt Phương phê bình Văn kiện Đảng “quá dài, rất trùng lắp, cũ kĩ, lạc hậu, sai lầm quay lại nhiều quá”. Ông chê các Văn kiện “bị tụt lùi xa so với Đại hội Đảng lần thứ IX, lần thứ X. Nếu có thể sửa chữa tí nào thì tốt, hoặc nên có một Nghị quyết mới”.

Ông Vũ Tuấn thì nói rằng: “Văn kiện không phản ánh được cuộc sống. Phải đưa cuộc sống vào Nghị quyết. Đổi mới chính trị chưa theo kịp đòi hỏi, đang cản trở. Xác định cho rõ vai trò lãnh đạo của Đảng: Lãnh đạo là ai? Ai cho quyền lãnh đạo? “.

Phó Giáo Sư Trần Đình Thiên thì bảo: “Hai mươi lăm năm qua, những điều tốt ta đạt được là nhờ chuyển sang kinh tế thị trường chứ không phải là do định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Giáo Sư Trần Phương phát biểu: “Hiện nay ta thích nói một cách, làm một cách khác. Ta đề cao chủ nghĩa Mác-LêNin, nhưng nó là cái gì mà bảo nó là nền tảng? Ta có làm theo các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin không? Đổi mới của ta thực chất là “thụt lùi” thừa nhận cả kinh tế tư nhân … Mác đã sai khi dự kiến về đặc trưng của Chủ Nghĩa Xã Hội. Ta giả vờ theo Mác, vì nói vậy nhưng đã làm khác đi rồi….Vậy, Chủ Nghĩa Xã Hội là gì? Có ai trả lời được không? Ta nói và ta biết là ta đang bịp người khác. Nhưng “Người ta chỉ có thể lừa bịp được mọi người trong vài lần, lừa được mọi người trong vài lúc, nhưng không thể lừa được mọi người trong mọi lúc!”. (Abraham Lincoln).

Phản ứng của Đảng

Ý kiến của các trí thức được lan truyền rộng rãi trong và ngoài nước nên chắc Đảng phải sốt ruột lắm. Ban Tuyên Giáo được lệnh ra quân chống lại. Người nhận công tác này đầu tiên là Trương Giang Long, một cán bộ ngành Tuyên Giáo vẫn viết thường xuyên những bài bảo vệ quan điểm của Đảng trên Tạp chí Cộng sản.

Nội dung bài viết của Trương Gia Long là nhằm bảo vệ lập trường tiếp tục kiên định xây dựng đất nước dựa trên nền tảng Chủ Nghĩa Mác-Lênin và Tư Tưởng Cộng Sản Hồ Chí Minh, đồng thời tố cáo quy chụp những quan điểm chống lại chủ trương này là nằm trong âm mưu chống Đảng của “các thế lực thù địch” trong và ngoài nước, của kế họach được gọi là “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến hòa bình”.

Trương Gia Long viết:

“ Đại hội XI của Đảng có trọng trách đặc biệt quan trọng. Ngoài việc tổng kết 10 năm thực hiện Chiến Lược Phát Triển Kinh Tế Xã Hội 2001- 2010, rút ra những bài học kinh nghiệm của chặng đường 25 năm đổi mới, Đại hội còn có nhiệm vụ xây dựng Chiến Lược Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội giai đoạn 2011-2020, bổ sung và phát triển Cương lĩnh năm 1991.
Kết quả của Đại hội sẽ là điểm tựa vững chắc cho chặng đường phát triển những năm tiếp theo, đồng thời còn là định hướng chiến lược có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc trong giai đoạn mới”.

Theo Trương Gia Long thì: “Những thành tựu mà Đảng và nhân dân ta đạt được trong suốt hơn 20 năm qua là to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được củng cố và nâng cao… nhưng đất nước vẫn phải đang đối mặt với không ít khó khăn, thách thức”.

Nhưng Trương Gia Long lại không nhận lỗi thay Đảng về những thất bại kể từ khi có đổi mới từ năm 1986, ngược lại cũng như những thợ viết tuyên truyền trước đây, ông Long chỉ biết đổ lỗi cho điều được gọi là “các thế lực thù địch” của “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến hòa bình”.

Nhóm chữ “diễn biến hòa bình” đã được đảng Cộng Sản Việt Nam sử dụng từ lâu để ám chỉ những ai chỉ trích đường lối cai trị độc tài, phi dân chủ của Đảng, nhưng khi Trương Giang Long sử dụng đến nhóm chữ “tự diễn biến hòa bình” là muốn nói đến tình trạng sa sút tư tưởng của các đảng viên không còn đủ bản lĩnh để chống lại tuyên truyền của “các thế lực thù địch” để có thể dẫn đến bị tự hủy diệt và làm cho Đảng tan rã.

Trương Gia Long tiết lộ chiến thuật chống Đảng của những kẻ cầm đầu các thế lực thù địch khi sử dụng “diễn biến hòa bình” như thế này:

“Diễn biến hòa bình” là một nội dung quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Đây là cuộc chiến thầm lặng nhằm tấn công toàn diện vào các mục tiêu bên trong cả về chính trị, kinh tế, tư tưởng, lý luận, văn hóa, nghệ thuật …, nhằm khoét sâu mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự thống nhất về tư tưởng và ý chí trong Đảng, làm cho nội bộ ta suy yếu và tự diễn biến.
Thực chất của “diễn biến hòa bình” chính là nhằm đẩy mạnh quá trình tự diễn biến, chủ động tạo ra các áp lực, tấn công chính diện vào lĩnh vực tư tưởng và lý luận, từ đó làm tan rã niềm tin, gây suy sụp về tinh thần, mất định hướng, hỗn loạn về lý luận, sẽ là điều kiện tốt nhất hình thành và nuôi dưỡng tâm trạng hoài nghi, tư tưởng bất mãn chống đối từ bên trong. Thực tiễn lịch sử cho thấy, ráo riết theo đuổi và thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm tạo ra quá trình tự diễn biến, tập trung trước hết ở lĩnh vực tư tưởng và lý luận. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đứng đầu là đế quốc Mỹ đã làm sụp đổ nhiều nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, kể cả Liên Xô – nhà nước hùng mạnh nhất trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa”.

Sát thực tế hơn, Trương Gia Long cho biết mục tiêu chiến lược toàn diện của các thế lực thù địch bao gồm:

- “Dùng mọi thủ đoạn và tất cả các phương tiện hiện có để phản bác, xuyên tạc, phủ định, xóa bỏ chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của Đảng, từng bước thay thế chủ nghĩa Mác bằng ý thức hệ tư sản.

- “Xóa bỏ chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng của dân tộc. Tạo áp lực và gây sức ép buộc chúng ta từ bỏ con đường đã chọn, quay trở lại chủ nghĩa tư bản.

- “Đòi xóa bỏ Điều 4 của Hiến pháp nhằm thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi Đảng Cộng sản Việt Nam phải rút lui khỏi vũ đài chính trị, thực hiện đa nguyên, đa đảng”.

Vậy hậu quả đã xảy ra đối với Đảng Cộng Sản Việt Nam ra sao?

Trương Gia Long viết: “Ở Việt Nam, trước sự tấn công của kẻ thù bằng “diễn biến hòa bình”, đã làm xuất hiện bệnh cơ hội, thực dụng thiếu trung thực gia tăng, thái độ thờ ơ giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng, kỷ cương kỷ luật không nghiêm, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng”.

Rõ nét hơn, sự suy thoái tư tưởng trong Đảng hiện nay còn được ông Trương Gia Long tiết lộ là do hậu quả sụp đổ của Liên Bang Xô Viết và các nước Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và do chủ trương mở cửa hội nhập của Việt Nam gây ra.

Trương Gia Long nói tiếp: “

Sau khi nhiều nước xã hội chủ nghĩa sụp đổ, đất nước ta đứng trước nhiều thách thức và phải đối mặt với không ít khó khăn. Trước những hiện tượng phức tạp nảy sinh nhiều cán bộ, đảng viên không đủ sức tự lý giải.
Khi chuyển sang kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập giao lưu quốc tế diễn ra quá nhanh chóng và sâu rộng. Nhận thức của nhiều người đã không theo kịp với yêu cầu của sự phát triển, thiếu hiểu biết dẫn đến hoang mang, dao động, cao hơn nữa là mất niềm tin, mất định hướng.

Đồng thời, mặt trái của kinh tế thị trường cũng đã làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là những đảng viên có chức có quyền đã thoái hóa về phẩm chất, đạo đức lối sống, vì lợi ích cá nhân, lại thiếu sự rèn luyện tu dưỡng bị những cám dỗ vật chất làm “hoa mắt”, biết sai vẫn cố tình làm miễn là thu lợi nhiều nhất cho cá nhân mình”.

Từ tình trạng xuống cấp này, theo ông Trương Gia Long thì đảng viên và cán bộ đã “giở chứng” nghi ngờ thành quả cách mạng trong quá khứ, nhìn nhận hiện thực bằng cái nhìn tiêu cực, yếu kém. Thiếu niềm tin vào tương lai, thậm chí có kẻ còn cho rằng, mọi khuyết tật và thói xấu của xã hội đều do lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa và bệnh quan liêu trong Đảng tạo ra. Từ đó, thúc đẩy nhanh quá trình tự diễn biến và tác động, làm suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành quản lý của Nhà Nước. Gieo rắc tâm lý hoài nghi, bất bình trong xã hội, tạo điều kiện để bọn cơ hội nhen nhóm hình thành lực lượng chống phá, gây áp lực đấu tranh đòi thay đổi chế độ chính trị khi có điều kiện.

Tất cả nhửng điều cáo buộc của Trương Gia Long chỉ phản ảnh một thực tế là hiện nay ở Việt Nam người dân không còn tin vào Đảng nữa và một số không nhỏ cán bộ, đảng viên cũng hết còn muốn đi theo Đảng. Ngược lại, ai cũng muốn Đảng từ bỏ độc quyền lãnh đạo và bỏ chạy theo chủ nghĩa phá sản Mác-Lênin để dân có dân chủ và tự do.

Những gì đang xảy ra?

Vậy những gì đang xảy ra ở Việt Nam? Hãy nghe lời thú nhận của Trương Gia Long:

Hiện nay, trước thềm Đại hội Đảng các cấp, ngoài việc công khai thành lập các chính đảng đối lập chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch đang tập trung tấn công chuyển hóa thông qua “tự diễn biến hòa bình” trên một số lĩnh vực:

- Phối hợp đồng bộ giữa bên ngoài và bên trong, chủ yếu là triệt để khai thác các phần tử bất mãn chống đối trong nước, nhất là một số trí thức và cán bộ biến chất, bọn cơ hội chính trị, nhằm tập trung xuyên tạc và phủ định chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh với mưu đồ dùng chính cộng sản chống lại và phản bác chủ nghĩa cộng sản.

- Bằng thủ đoạn chiến tranh tâm lý nham hiểm và thâm độc, thông qua các chứng cứ ngụy tạo được dựng lên bởi chính những phần tử bất mãn, cơ hội, các thế lực thù địch mong muốn quá trình tự chuyển hóa về mặt tư tưởng và lý luận diễn ra nhanh chóng. Chúng rêu rao những điệp khúc sáo mòn cũ rích: chủ nghĩa Mác đã lỗi thời, kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa đang bế tắc … hòng lung lạc ý chí và niềm tin của quần chúng trước thềm đại hội các cấp. Trọng tâm là làm cho quần chúng nhân dân, kể cả một bộ phận cán bộ, đảng viên xa rời chủ nghĩa Mác, xa rời tư tưởng Hồ Chí Minh.

- Huy động và sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả phương thức truyền miệng cổ điển, phản bác chính diện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà Nước thông qua các sự vật, hiện tượng cụ thể có thật và những yếu kém, bất cập của chính chúng ta, nhưng được nhào nặn, bóp méo, với dụng ý xấu, chúng quy kết và phủ định những thành quả của đổi mới, xuyên tạc trắng trợn, nhằm bôi đen chế độ ta, phủ định con đường mà Đảng và nhân dân ta lựa chọn.

Chúng cố tình quy kết Đảng đưa dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội là sai lầm, bởi so sánh với nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới có xuất phát điểm giống Việt Nam, nhưng nhờ đi theo con đường tư bản chủ nghĩa đã trở nên giàu có, phồn vinh. Cho rằng Việt Nam ngoan cố, bảo thủ tiếp tục lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa. Làm bạn với tất cả các quốc gia dân tộc nhưng đất nước vẫn nghèo, không cô độc nhưng đơn độc. Những kẻ bồi bút của các thế lực thù địch rao giảng dân chủ đa đảng, nhà nước pháp quyền và kinh tế thị trường là quy luật… tất yếu sẽ thay thế mô hình độc đảng, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

- Sử dụng chính những kẻ cơ hội và phản Đảng, chống Đảng. Mục tiêu của tự diễn biến trong nội bộ Đảng là tách Đảng ra khỏi dân, đối lập Đảng với dân. Chúng thổi phồng khuyết điểm, yếu kém của những phần tử cơ hội, bọn quan liêu, tham nhũng rồi quy kết Đảng, đánh đồng những kẻ xấu, hủ bại với những người tốt, trung kiên. Rêu rao rằng: Đảng viên giờ đây sống trên dân, giàu có hơn dân, vô cảm trước các nỗi đau của dân. Chuyển sang giai đoạn phát triển mới, Đảng bộc lộ nhiều yếu kém, tự mình không thể đổi mới, không còn đủ khả năng lãnh đạo đất nước; kinh tế thị trường với sự phát triển đa dạng về kinh tế tất yếu sẽ dẫn đến đa đảng; việc Đảng giao quyền lãnh đạo đất nước cho một nền dân chủ đa nguyên, chỉ là thời gian mà thôi v.v…” 

Trước sức mạnh tinh thần tự vùng lên của nhiều tầng lớp người dân như ông Trương Gia Long đã nhìn nhận, Trương Gia Long chỉ còn biết kêu gọi toàn đảng hãy: “Kiên quyết chống trả và bác bỏ các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, khẳng định tính đúng đắn của cương lĩnh, đường lối, chính sách Đảng và Nhà Nước. Tổ chức thật tốt quy trình lựa chọn đề cử, ứng cử cán bộ tham gia cấp ủy các cấp và nhân sự Đại hội XI, bảo đảm để những người tham gia cấp ủy các cấp và nhân sự Đại hội XI thực sự là những cán bộ ưu tú nhất của Đảng. Chống tư tưởng bè phái cục bộ trong công tác chuẩn bị nhân sự đại hội. Nghiêm trị những kẻ tham nhũng, thoái hóa biến chất trong Đảng, trong bộ máy chính quyền. Bảo vệ sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Khả năng hoàn thành nhiệm vụ chính trị và trách nhiệm xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong Đảng là điều kiện và tiêu chí quan trọng đánh giá năng lực của người lãnh đạo, của cấp ủy các cấp”.

Nhưng liệu lời kêu gọi yếu đuối và cô đơn của Trương Gia Long có còn được ai nghe không, hay đã tan theo hơi khói của phiên chợ chiều?

Phạm Trần
(11/2010)

Theo Thông Luận

]]>
1
Trịnh Thanh Thủy <![CDATA[Mùa thu súng gãy]]> http://hungviet.org/blog/?p=18858 2010-11-20T18:17:58Z 2010-11-20T18:17:58Z (Để tưởng niệm nhà văn Cao Xuân Huy)

Mùa thu Cali không có lá phong đổi màu rực đỏ trước một rừng ngát gió. Tuy nhiên bầu trời đen thẫm gây gây lạnh những buổi chiều mau tối cũng làm lòng người man mác một nỗi buồn vô cớ. Lá vàng lả tả rơi, nhắc nhớ người lữ thứ một tiếng gọi quay về. Thế mà ông lại khoác áo, kéo chiếc zipper cũ, đeo vào cặp kính và đi chầm chậm vào mùa thu. Một đi không ngoái lại, khuôn mặt hồng hào đó vẫn để lại trong lòng bè bạn một nụ cười. Phải nói là nụ cười của ông rất đẹp, đẹp một cách đôn hậu. Tôi gặp ông lần đầu nhìn ông cười, bao căng thẳng trong óc cũng dãn ra. Cao Xuân Huy cười với tất cả khuôn mặt. Ông ít nói nhưng khi nói thì rất cởi mở và thẳng thắn. Phải nói là ông trực tính. Phong cách một người quân nhân ngày nào còn đâu đó trong máu nên trong cử chỉ ông vẫn còn phảng phất sự ngang tàng của người lính mũ Xanh. Tôi quen ông tình cờ khi đến thăm một người bạn viết văn mà lại làm chủ một vườn cây lớn ở Los Angeles. Ông tủm tỉm cười, giới thiệu là anh em thân thiết của ông chủ vườn cây. Anh Tiến nói, anh Huy đang cần bài cho tờ báo Văn Học và hỏi tôi có bài thì gởi cho Văn Học. Chúng tôi coi nhau như anh em. Anh Huy nói cười, bông đùa rất sảng khoái, anh bảo “Anh đang dụ thằng này tái bản cuốn Vàng đen để anh có tiền uống rượu”. Sau này mỗi lần gặp anh, hỏi anh dạo này ra sao, anh lại đùa, anh vẫn đang đi dụ thiên hạ in sách, phát hành sách báo đấy mà.

Phải công nhận rằng ông có rất nhiều bạn bè, lúc nào gặp ông cũng thấy ông đang bận điện thoại, hay một chốc lại thấy điện thoại cầm tay của ông reo inh ỏi. Tôi không biết, có phải công việc ông đang làm đòi hỏi ông phải giao tiếp nhiều hay vì tính tình ông dễ mến nên ông quen rộng. Những khi có buổi họp mặt văn nghệ bạn bè thân thiết, tôi thấy ông chỉ ngồi một chỗ, nói ít, nhưng uống nhiều. Hình như tửu lượng của ông cao vô cùng vì tôi chưa bao giờ thấy ông say, dù ông uống mạnh lắm.

Trong tạp chí Hợp Lưu, khi kể chuyện làm báo, ông Khánh Trường có thuật lại một giai thoại khá vui vui. Thưở ấy lúc còn Cao Xuân Huy và Hoàng Khởi Phong cộng tác, Cao Xuân Huy lo việc đánh máy, Khánh Trường lo việc biên tập. Đôi có việc bất đồng ý kiến gây nên chuyện cãi nhau, thế là Cao Xuân Huy “cóc” thèm đánh máy nữa. Vì thế mỗi khi “to chuyện” thì HKPhong lại cảnh cáo KTrường “coi chừng lạng quạng, nó cóc thèm đánh máy cho mày nữa, thì làm gì nhau?” và KT thú nhận(nguyên văn) “Thì chẳng làm gì được nhau! Chỉ có cách là kéo “thằng khốn” ấy ra quán “tắm” bia cho bõ tức”

Lần cuối tôi gặp ông ở tư gia nhà văn Đặng Phú Phong nhân một nhà văn nữ ở Đức qua chơi, ông không còn uống được nữa. Hôm ấy tôi mới hay ông bị ung thư gan và bắt đầu chương trình hoá trị, tôi rất bàng hoàng. Trước đó, ngày tôi được biết ông bị ung thư mắt và mất đi một con, tôi xót xa lắm. Ông mất một viên ngọc quý đời mình để phải nhìn cuộc đời trong khung cửa hẹp hơn. Tôi hỏi thăm về bệnh tình, ông tỏ vẻ rất “cool” khi cho bạn bè biết tình trạng của mình. Nụ cười vẫn trên môi, khuôn mặt ấy vẫn hồng hào rạng rỡ. Thái độ ông khi đối diện con bệnh rất thản nhiên và oai hùng. Tác giả “Tháng ba gãy súng” hình như không biết lùi trước mọi tình huống.

Tôi gọi anh Đặng Phú Phong và ngỏ thầm sự sợ hãi của tôi về điều lo lắng “có lẽ anh Huy không sống được lâu anh ạ, ung thư gan lan nhanh lắm”. Anh Phong bồi hồi “Anh cũng nghĩ vậy nhưng anh thấy nó tỉnh như không, thằng đó “chì lắm”.

Thế mà lời dự đoán của tôi thành sự thật, nhanh hơn tôi tưởng, anh đã ra đi sau vài lần hoá trị. Bên giường bệnh, lúc nào cũng có người thân và bạn bè trực canh cho anh. Còn nỗi ấm áp nào hơn, còn sự chia sẻ êm đềm nào hơn phải không, anh Cao Xuân Huy?.

Cơn đau của ung thư chìm dần trong Morphine, trong cơn mê ngủ ngật ngừ, anh không còn thức dậy để nhìn người thân, bạn bè, các thính giả ái mộ anh nữa. Khắp nơi nhiều cơ quan truyền thông, báo chí, các hội đoàn đều ngỏ lời chia buồn với anh. Nhóm thân hữu Hội Thủy Quận Lục Chiến Nam Cali đã cử hành nghi thức phủ quốc kỳ VNCH trên quan tài anh tại nhà quàn.

Bao nhiêu là thương nhớ và ngưỡng phục đối với sự ra đi quá sớm của người lính can trường và trực tính này.

“Được người đưa tiễn
đưa tiễn người cuối cùng
mùa thu ở rừng Kiso”

(Trích thơ Basho)

Năm xưa, anh viết về tháng ba và những cây súng gãy. Mùa thu năm nay, anh thực sự lên đường cho chính mình để vào lòng đất và ôm theo cây súng gãy năm xưa. Đâu đó tiếng thơ Haiku của Basho râm ran trong trí tôi. Buổi hoàng hôn một đời người chấm dứt trên mặt đất phủ đầy những lá vàng. Anh chậm rãi đi vào mùa thu giống như Thi sĩ Basho đã khoác áo tơi, mang đôi giày cỏ, ra khỏi nhà bắt đầu một chuyến đi vào vô định.

“Trên cành khô
Chim quạ đậu
Chiều tàn mùa thu”

(Trích thơ Basho)

Trịnh Thanh Thủy

Mùa thu, năm 2010

Theo Người Việt Boston

]]>
0
Người Việt <![CDATA[Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế Mỹ lên tiếng đòi chế độ Hà Nội trả tự do cho luật gia Cù Huy Hà Vũ]]> http://hungviet.org/blog/?p=18853 2010-11-20T18:49:20Z 2010-11-20T18:13:38Z WASHINGTON DC. (NV) – Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế Hoa Kỳ (USCIRF) vừa lên tiếng đòi chế độ Hà Nội trả tự do cho luật gia Cù Huy Hà Vũ và đồng thời kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ xếp tên nước Việt Nam trở lại danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt (CPC).

Ông Cù Huy Hà Vũ

“Việc bắt giam ông Cù Huy Hà Vũ là sự lăng mạ đáng giận dữ đối với các nỗ lực của chính phủ Obama muốn cải thiện mối quan hệ với Việt Nam.” Leonard Leo, chủ tịch USCIRF phát biểu trong bản tuyên bố phổ biến hôm Thứ Năm. “Ngoại Trưởng Clinton đã hợp lý khi lên án các hành động bạo lực đối với các cộng đồng tôn giáo và những người đấu tranh bảo vệ nhân quyền.”

Dịp này, ông Leo kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ xếp tên nước Việt Nam trở lại danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt vì vẫn đàn áp tôn giáo rất trầm trọng.

“Ðây là cơ hội để chính quyền Obama đưa ra hành động hậu thuẫn cho các lời nói, gồm cả việc đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC.” Ông nói.

Ông Cù Huy Hà Vũ đã bị chế độ Hà Nội bắt giam ngày 5 tháng 11, 2010 vừa qua khi ông từ Hà Nội vào Sài Gòn. Ông từng nộp đơn kiện Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng hai lần, tố cáo ông này vi phạm luật pháp khi ra quyết định khai thác bauxite hồi tháng 6 năm ngoái.

Tháng trước, ông Cù Huy Hà Vũ kiện Thủ Tướng Dũng trái luật vì cấm dân chúng khiếu kiện tập thể.

Ông Cù Huy Hà Vũ đã cho vợ, bà Nguyễn Thị Dương Hà, và một cộng sự là hai luật sư từ Hà Nội vào Ðà Nẵng để bảo vệ pháp lý cho 6 giáo dân giáo xứ Cồn Dầu khi họ bị lôi ra tòa với cáo buộc “gây rối trật tự công cộng” hồi cuối tháng 10 vừa qua theo lời yêu cầu của thân nhân các nạn nhân.

Các luật sư này đã bị từ chối quyền bào chữa phi lý nên họ đã gửi văn thư cho Viện Kiểm Sát của thành phố Ðà Nẵng đòi hỏi truy tố người thẩm phán đã từ chối quyền bào chữa của bà Luật Sư Dương Hà và người luật sư cộng sự.

Ðây có thể là những giọt nước làm tràn ly khiến ông Cù Huy Hà Vũ bị bắt giam và truy tố, tiếp theo những việc trước đây ông đã lên tiếng chống lại các việc làm trái luật, có hại cho đất nước mà thủ phạm từ các cấp cao nhất trong guồng mày đảng và nhà nước cộng sản.

Ông Cù Huy Hà Vũ bị vu cho tội “tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN” theo Ðiều 88 của Bộ Luật Hình Sự từng bị dư luận quốc tế đả kích là trái với công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, cũng như trái với chính bản Hiến Pháp của chế độ.

Bà Dương Hà đã gửi một lá đơn tố cáo gửi đến Ủy Ban Tư Pháp của Quốc Hội Hà Nội cáo buộc guồng máy công an Việt Nam vi phạm pháp luật và Hiến Pháp khi xét chỗ ở, khám xét nhà, bắt giữ chồng bà là ông Cù Huy Hà Vũ.

Theo USCIRF, ông Cù Huy Hà Vũ là người mới nhất, cho tới nay, bị chế độ Hà Nội bắt giam rồi bỏ tù chỉ vì vận động dân chủ hóa đất nước, đòi hỏi nhân quyền và tự do tôn giáo. Trong số những luật sư can đảm đứng ra bảo vệ quyền tự do tôn giáo được USCIRF nêu danh gồm có LS Lê Công Ðịnh, LS Nguyễn Văn Ðài, LS Lê Thị Công Nhân, LS Lê Trần Luật và LS Lê Quốc Quân.

Tháng 8 vừa qua, đại diện USCIRF đã tham gia điều trần tại Ủy Ban Nhân Quyền Hạ Viện Hoa Kỳ về những hành động đàn áp tôn giáo của nhà cầm quyền Hà Nội tại giáo xứ Cồn Dầu cũng như về tình trạng tự do tôn giáo nói chung tại Việt Nam.

Trong bản phúc trình hàng năm, USCIRF vẫn liệt kê ra một danh sách dài những vụ đàn áp, khủng bố, bỏ tù các cá nhân và tổ chức tôn giáo tại Việt Nam. Mọi người có thể tìm đọc các bản phúc trình này tại địa chỉ www.uscirf.gov

“Các nỗ lực gần đây của ông Vũ nhân danh giáo dân Cồn Dầu đã kích thích nhà cầm quyền bắt giam một người cổ động nhân quyền nổi tiếng.” Bản tin của USCIRF viết. “Tổ chức USCIRF đã mở nhiều cuộc phỏng vấn với cư dân Cồn Dầu và đã thấy các bằng chứng đáng tin cậy như đe dọa, sách nhiễu, cấm cản các sinh hoạt tôn giáo và tra tấn khi giam giữ. Có đến 60 giáo dân đã bị bắt giam sau khi giáo dân giáo xứ Cồn Dầu tham dự một đám tang ngày 4 tháng 5, 2010 mà nhà cầm quyền cấm đoán.

Một giáo dân, ông Nguyễn Thành Năm đã bị công an đánh chết khi bắt đi điều tra dù một ngày hôm trước ông vẫn đi làm và mạnh khỏe, theo lời nhân chứng cho biết. Trên thi thể ông có nhiều vết bầm giập, máu chảy ra từ lỗ tai và miệng.

“Ông Cù Huy Hà Vũ phải được trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện.” Ông Leo nói. “Chế độ Hà Nội gọi Hoa Kỳ là người bạn mới và tốt nhất của Á Châu, nhưng lại vẫn tiếp tục chà đạp nhân quyền và vi phạm luật pháp vì không sợ hậu quả.” Ông cho rằng Hoa Kỳ không nên cải tiến hợp tác phát triển kinh tế và an ninh với Việt Nam khi mà các tiến bộ về tôn giáo nhân quyền vẫn không cải thiện.

Hai ngày trước đây, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ công bố bản tường trình hàng năm về tình hình tự do tôn giáo trên thế giới. Trong đó, phần tường trình về tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam dài 30 trang nêu ra rất nhiều vi phạm của nhà cầm quyền Hà Nội.

19-11-2010

Theo Người Việt

]]>
0
Nguyễn Hưng Quốc <![CDATA[Blog: đệ ngũ quyền]]> http://hungviet.org/blog/?p=18849 2010-11-20T18:10:01Z 2010-11-20T18:10:01Z Khái niệm đệ ngũ quyền (the fifth estate) được dùng để chỉ thế giới blog chỉ mới xuất hiện được khoảng năm ba năm trở lại đây mà thôi.

Nói đến đệ ngũ quyền hẳn ai trong chúng ta cũng nhớ ngay đến khái niệm đệ tứ quyền vốn đã được sử dụng để chỉ giới truyền thông, từ báo in đến truyền thanh và truyền hình. Khái niệm này đã xuất hiện từ lâu, khoảng cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, trước hết là ở Pháp và ở Anh. Ba quyền kia, ở Anh, được phân bố trong Thượng nghị viện, bao gồm Viện Tăng Lữ (Lords Spiritual), Viện Quý tộc (Lords Temporal) và Viện Thứ dân (the Commoners); ở Pháp, quyền lực cũng được chia cho ba giới như vậy nhưng dưới tên và hình thức khác (Nhà thờ, Quý tộc và Thị dân).

Sau này, khái niệm tam quyền được dùng để chỉ ba lãnh vực: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Có điều, lúc nào và ở đâu người ta cũng nhận thấy, sự phân quyền ấy chỉ có thể hiệu quả và bảo đảm được tự do và dân chủ nếu có thêm cái quyền thứ tư: quyền thông tin và quyền ngôn luận được thể hiện qua các phương tiện truyền thông đại chúng.

Các phương tiện truyền thông đại chúng ấy, thoạt đầu, chỉ bao gồm báo in; sau, thêm truyền thanh, và, từ giữa thế kỷ 20, thêm truyền hình. Về phương diện chính trị, tất cả đều nhắm đến một mục tiêu lý tưởng: minh bạch hoá các hoạt động của chính phủ trong cả ba lãnh vực lập pháp, tư pháp và hành pháp, đặc biệt là hành pháp, để tránh việc lợi dụng và lạm dụng quyền lực, hay nói cách khác, theo cái khẩu hiệu thường nghe ở Việt Nam, làm cho dân biết, dân bàn và dân kiểm tra.

Không còn hoài nghi gì nữa, trong suốt thế kỷ 20, truyền thông đại chúng đã từng nhiều lần chứng minh vị thế của một thứ đệ tứ quyền trong đời sống chính trị, nhất là ở các nước dân chủ. Giới truyền thông được quyền yêu sách chính phủ phải công khai hoá những quyết định quan trọng liên quan đến đất nước và xã hội. Giới truyền thông cũng từng đóng vai trò phản biện tích cực đối với những chính sách mà họ cho là sai trái, qua đó, hướng dẫn dư luận và buộc chính phủ phải điều chỉnh nhiều chính sách để hợp với nguyện vọng của dân chúng. Với vai trò đó, truyền thông đại chúng đã trở thành một thứ hàn thử biểu để đo lường tính chất dân chủ trong một xã hội: Ở đâu truyền thông được tự do và độc lập, ở đó có dân chủ; ngược lại thì không. Đơn giản chỉ vậy.

Ở Mỹ, trong suốt nửa sau thế kỷ 20, truyền thông trở thành một lực lượng chính trị quan trọng, trong đó, nổi bật nhất là hai sự kiện: chiến tranh Việt Nam và sự kiện Watergate.

Trong chiến tranh Việt Nam, truyền thông đóng vai trò quan trọng đến độ nó trở thành danh xưng của cả cuộc chiến tranh: chiến tranh truyền thông (media war) hay chiến tranh trong phòng khách (lounge room war), nơi mỗi buổi tối mọi người dân Mỹ đều có thể theo dõi, hầu như tận mắt, những cảnh khốc liệt trong cuộc chiến ở Việt Nam. Truyền thông, đặc biệt là tivi, đã mang hình ảnh chiến tranh trong rừng núi và đồng quê ở một nước châu Á xa xôi heo hút vào tận phòng khách từng nhà. Nó biến cuộc chiến tranh ở Việt Nam thành cuộc chiến tranh về Việt Nam. Nó cũng biến cuộc chiến tranh trên mặt trận quân sự thành một cuộc chiến tranh trong trái tim từng người.

Kết quả là phong trào phản chiến càng ngày càng lớn mạnh, tạo thành một sức ép đè nặng lên chính quyền Mỹ, và, cuối cùng, không thể chịu đựng nổi những sức ép ấy, họ tuyên bố rút quân, để đến năm 1975, chấp nhận thua trận. Bởi vậy, nhiều nhà bình luận cho rằng Mỹ không thua trận ở chiến trường Việt Nam; họ chỉ thua trên mặt báo và trên màn ảnh tivi.

Cũng ở Mỹ, truyền thông lại chứng tỏ được sức mạnh lớn lao của mình qua vụ án Watergate. Đó là tổng hành dinh của đảng Dân Chủ và cũng là nơi, vào ngày 17 tháng 6 năm 1972, cảnh sát bắt được năm người đàn ông lén lút đột nhập và ăn trộm tài liệu của đảng Dân Chủ. Các cuộc điều tra, sau đó, phát hiện cả năm người này, trực tiếp hay gián tiếp, đều có liên hệ với Uỷ ban tái tranh cử Tổng thống của đảng Cộng Hoà lúc ấy đang cầm quyền.

Sự cố ấy gây khá nhiều xôn xao trong dư luận nhưng có lẽ nó sẽ không có ảnh hưởng quá lớn lao nếu hai nhà báo Bob Woodward và Carl Bernstein không tung ra bài phóng sự trên The Washington Post, trong đó, hai ông tiết lộ, một viên chức cao cấp của chính phủ, dưới mật danh là Deep Throat, cho biết: hành động ăn cắp tài liệu của đảng Dân Chủ ở Watergate nằm trong âm mưu chung của đảng Cộng Hoà và được sự chấp thuận của chính Tổng thống Richard Nixon. Bài phóng sự làm thay đổi hẳn dư luận, cuối cùng, buộc Tổng thống Nixon phải từ chức. Đó là việc từ chức đầu tiên, và cho đến nay, duy nhất của tổng thống Mỹ.

Tuy nhiên, không phải lúc nào và ở đâu truyền thông cũng có thể đóng vai trò quan trọng và cần thiết như vậy. Có hai trở lực chính:

Thứ nhất, ở các quốc gia độc tài, chính phủ luôn luôn tìm cách thâu tóm hoạt động truyền thông vào tay mình. Báo chí: nhà nước nắm. Truyền thanh: nhà nước nắm. Truyền hình: nhà nước nắm. Người ta có thể tư hữu hoá và tư nhân hoá trên rất nhiều lãnh vực, trừ truyền thông. Tất cả mọi nguồn tin tức đều bị nhà nước kiểm soát. Mọi tiếng nói phản kháng hay phản biện, thậm chí, hơi một chút độc lập, đều bị dập tắt. Vai trò thông tin và kiểm soát của dân chúng đối với chính phủ không thể thực hiện được. Cái gọi là “dân biết, dân bàn và dân kiểm tra” chỉ còn là một khẩu hiệu suông, láo khoét và rỗng tuếch. Việt Nam nằm trong trường hợp này.

Thứ hai, ngay ở các nước tự do và phát triển, tự do trong lãnh vực truyền thông cũng càng ngày càng hạn chế. Lý do chính là vì xu hướng tập trung hoá trong lãnh vực kinh tế. Để bao quát được mọi tin tức nổi bật trên phạm vi toàn thế giới và để có thể loan tin nhanh chóng đến mọi hang cùng ngõ hẻm, người ta cần nguồn nhân lực mạnh và điều kiện kỹ thuật cao; tất cả đều cần nhiều vốn liếng mà chỉ có các nhà đại tư bản mới gánh vác nổi. Hậu quả là hầu hết các cơ quan truyền thông đều nằm trong tay một số người. Chính họ, chứ không phải dân chúng, khuynh loát toàn bộ dư luận trong xã hội. Trong các cuộc bầu cử tự do, họ ngả theo phe nào, phe đó thường thắng. Sự ủng hộ của họ, dĩ nhiên, sẽ được trả công, dưới hình thức này hay hình thức khác.

Trong cả hai trường hợp vừa kể, cái gọi là đệ tứ quyền nếu không bị bóp nghẹt (ở trường hợp trên) thì cũng bị hạn chế rất nhiều (trường hợp dưới). Truyền thông không còn hoàn toàn tự do và độc lập nữa. Vai trò của nó đối với tiến trình dân chủ hoá xã hội bị giảm thiểu đáng kể. Chính vì vậy, người ta mới thấm thía nhu cầu cần có một thứ “quyền” khác: đệ ngũ quyền.

Đại diện của đệ ngũ quyền chính là internet, đặc biệt, của các blog.

Thật ra, internet cũng nằm trong lãnh vực truyền thông; nhưng internet khác các hình thức truyền thông truyền thống khác ít nhất ở hai điểm:

Thứ nhất, nó không bị giới hạn về không gian và thời gian. Về không gian, tất cả hình thức truyền thông cũ, đặc biệt là báo in, đều bị giới hạn trong một khung địa lý nhất định. Ngay truyền thanh và truyền hình cũng không thể đi quá xa. Chỉ có internet là thực sự có tính toàn cầu: Bất cứ ở đâu, hễ có máy vi tính được nối mạng là người ta đọc được. Về thời gian, trên báo cũng như trên truyền thanh và truyền hình, tin tức và bài vở chỉ xuất hiện một lần. Lỡ hụt là hụt luôn. Trên internet, ngược lại, bài vở cứ nằm ở đó mãi. Đọc lúc nào cũng được. Khi cần, người ta có thể đọc lại được cả những bài rất cũ, cả mấy năm hay hàng chục năm trước đó.

Thứ hai, internet thoát được xu hướng tập trung hoá. Một đại công ty có trang mạng hay blog? Ừ, cũng được. Nhưng một cá nhân nào đó muốn có trang mạng hoặc blog? Cũng được. Trên thế giới, không hiếm gì các trang mạng hoặc blog của cá nhân lại được đọc nhiều hơn hẳn các cơ sở truyền thông lớn.

Mang tính cá nhân, các trang mạng hoặc blog có thể vấp phải một số hạn chế nhất định. Chẳng hạn, một số thông tin có thể chưa được kiểm tra đầy đủ hay một số ý tưởng hay cách diễn đạt chưa được biên tập kỹ lưỡng, v.v… Có thể. Nhưng bù lại, chúng được tự do và độc lập, không bị áp lực của cả chính trị lẫn kinh tế.

Chính vì tính chất tự do và độc lập ấy, internet, đặc biệt là blog, đã được vinh danh là đệ ngũ quyền, tương đương với đệ tứ quyền vốn bao trùm toàn bộ ngành truyền thông truyền thống nói chung.

Chức năng chính của đệ ngũ quyền là gì?

Nếu chức năng chính của đệ tứ quyền là công khai hoá, minh bạch hoá và kiểm soát các hoạt động của chính phủ, từ lập pháp đến tư pháp và hành pháp; chức năng chính của đệ ngũ quyền, trước hết, là kiểm soát và bổ sung cho đệ tứ quyền. Nó lên tiếng ở những nơi đệ tứ quyền im lặng. Nó cải chính những sai sót mà đệ tứ quyền vấp phải. Nhiều người quan niệm: nếu đệ tứ quyền có nhiệm vụ canh chừng các hoạt động của chính phủ thì nhiệm vụ chính của đệ ngũ quyền là canh chừng những kẻ canh chừng ấy.

Điều này có thể thấy rõ trong trường hợp của Việt Nam. Các cơ quan truyền thông chính thống im lặng trước dự án bauxite ở Tây Nguyên ư? Thì các blog lên tiếng. Các cơ quan truyền thông im lặng trước tệ nạn tham nhũng, lãng phí và độc quyền của chính phủ ư? Thì các blog sẽ lên tiếng.

Ở Tây phương, người ta nhìn nhận những sự bổ sung và cải chính như vậy là cần thiết. Riêng ở Việt Nam, người ta gọi đó là phản động và tìm mọi cách để trấn áp.

Buồn.

Nguyễn Hưng Quốc

19-11-2010

Theo Blog Nguyễn Hưng Quốc

]]>
0
Song Chi <![CDATA[Khi cái ác đã trở thành bình thường!]]> http://hungviet.org/blog/?p=18838 2010-11-20T17:59:43Z 2010-11-20T17:59:43Z Có những ngày tôi không muốn đọc báo Việt Nam kể cả trong và ngoài nước, bởi vì cứ đọc mãi những tin tức về tình hình chính trị xã hội văn hóa ở Việt Nam, lại càng thấy lòng nặng trĩu. Ngay trên những trang báo “lề phải”, rõ ràng đã thấm nhuần những lời huấn thị của Đảng đồng thời hiểu rất rõ thân phận của báo chí trong một chế độ độc tài nên luôn luôn cố gắng “xấu che tốt khoe”, cố gắng tìm cho ra những thành tích, thành tựu của Đảng và nhà nước để tụng ca mọi lúc có thể, nhưng mặc dù vậy, những điểm tươi sáng vẫn chiếm tỷ lệ rất ít trên bức tranh toàn cảnh của xã hội Việt Nam. Cái xấu cái ác, sự bất công phi lý, những hành vi sai trái ngang ngược chà đạp lên luật pháp từ nhẹ đến cực kỳ nghiêm trọng, đi ngược lại những tiêu chuẩn nhất định của mọi xã hội văn minh dân chủ tiến bộ nói chung…càng ngày càng nhiều, xảy ra ở khắp mọi nơi, mọi lĩnh vực, với đủ mọi tầng lớp trong xã hội.

Hai trong bốn đứa trẻ vừa thoát khỏi địa ngục nhà mở Đồng Nai. Nguồn: vietnamnet.vn

Thật ra xã hội nào mà chẳng có cái xấu cái ác, sự bất công. Nhưng trong những xã hội có những thể chế chính trị độc tài với những hình thức, mức độ khác nhau như Miến Điện, Trung Quốc, Việt Nam, Cuba, Bắc Hàn, Eritrea, Iran, Iraq, Ả rập Xê-út, Somalia, Sudan, Venezuela…cái xấu, cái ác, cái bất công có điều kiện sinh sôi nảy nở và tồn tại một cách ngang nhiên hơn. Nhất là khi sự độc tài của chế độ lại đi kèm với một môi trường xã hội mà trong đó “quan trí” lẫn “dân trí” chưa cao, thì mức độ dã man của con người càng đáng sợ.

Cứ theo dõi tình hình xã hội Việt Nam thì thấy sự vô cảm, dã man, sự coi thường nhân phẩm, danh dự, sinh mạng của con người đối với đồng loại ngày càng trở nên không thể tưởng tượng nổi.

Ở Mỹ hay các nước phương Tây vẫn có những kẻ giết người hàng loạt, những kẻ tâm thần, bệnh hoạn, biến thái các kiểu, thích hành hạ nạn nhân của mình theo những cách “sáng tạo” nhất, thậm chí còn ăn thịt nạn nhân sau khi giết chết…
Có thể Việt Nam chưa có những trường hợp kiểu như vậy. Nhưng đó là những kẻ bệnh hoạn, bất bình thường. Điều đáng nói ở Việt Nam là sự vô cảm, độc ác có thể xảy ra ở những người bình thường nhất, trong những hành vi đời thường nhất.
Sự vô cảm, ác độc có thể xảy ra ngay trong lứa tuổi học sinh lẽ ra rất hiền hòa, ngây thơ, trong sáng. Dư luận đã từng phải lên tiếng báo động về hiện tượng không chỉ xảy ra một lần, các nữ sinh đánh nhau tàn tệ rồi quay thành video trong lúc có những em học sinh khác thản nhiên chứng kiến, không can thiệp! Dã man hơn, có một video clip không biết của ai quay và tung lên mạng, cảnh một người mặc sắc phục bộ đội, bị tai nạn giao thông cán đứt nửa người từ trên đùi trở xuống nhưng vẫn tỉnh táo, đang ngắc ngoải trong lúc chờ xe cứu thương tới. Trong video clip có thể thấy rõ rất nhiều người bu quanh nạn nhân, đứng nhìn, và có những người đã lấy điện thoại di động ra quay. Thật kinh sợ việc ai đó có thể bình tĩnh quay đồng loại của mình trong một hoàn cảnh thương tâm như vậy.

Báo chí đã từng nói rất nhiều về việc những tài xế coi thường tính mạng người khác. Việc những chiếc xe bus, xe tải, xe ben…chạy nhanh, phóng ẩu, gây tai nạn chết người là chuyện như cơm bữa. Ai sống trong các thành phố lớn như Sài Gòn, Hà Nội…thì đều chứng kiến xe bus đã trở thành những hung thần trên đường phố như thế nào. Nhiều khi xe dừng, người chưa kịp xuống hoặc vừa bước lên là xe đã chạy, nên mới có những trường hợp như một phụ nữ ở Hà Nội trong lúc đang bước xuống xe, cánh cửa xe bus đột nhiên đóng mạnh, đập vào mặt khiến bà ngã xuống và bị bánh sau xe bus chồm tới cán nát ngực, thương tích trầm trọng (tháng 11.2010); trước đó thì một nữ sinh cũng ở Hà Nội, do kẹt chân vào cánh cửa xe, bị xe kéo đi, khi nạn nhân và người đi đường la lên, xe không ngừng hẳn mà lại mở cửa nhả chân cô gái ra nên nạn nhân bị bánh sau chiếc xe cán nát đùi, gãy xương chậu. Những tai nạn xuất phát từ sự vô tâm đến nhẫn tâm này rất thường thấy. Nhưng có những trường hợp không phải là tai nạn mà là cố tình giết người. Đọc những bài báo viết về vụ tài xế xe container Đặng Hữu Anh Tuấn ba lần cán chết một cô gái ở TP.HCM (tháng 5.2008) hay vụ một chiếc “xe điên” do kỹ sư Nguyễn Minh Trí cố tình cán qua người nạn nhân sau khi đã tông ngã xe và người ra đường (tháng 9.2010), mà thấy rợn người.

Vì sao con người có thể dã man đến mức coi mạng người không có nghĩa lý gì, như vụ một tay quản lý của một trang trại cà phê ở Ban Mê Thuộc thản nhiên để mặc cho đàn chó becgie cắn xé đến chết một phụ nữ mà không cứu (tháng 1.2010), và kể cả tay giám đốc trang trại này, nuôi cả một đàn chó dữ có thể ăn thịt người để đối phó với những người dân nghèo vào mót quả cà phê? Hay những người dân ở xã Hưng Đông, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã đánh đến chết hai thanh niên và thiêu cả xác lẫn xe chỉ vì hai người này đã ăn trộm chó! (tháng 9.2010)

Hiện trường vụ giết người trộm chó tại thành phố Vinh, Nghệ An. Nguồn: tuanvietnam.vn

Có còn chút nhân tính nào ở những con người mà trong cuộc sống, vẫn hết sức bình thường, không có bất cứ dấu hiệu gì của bất cứ loại bệnh tâm thần nào như vậy?

Sự độc ác bộc lộ ngay ở những người mà xã hội vẫn xem là những biểu tượng của lòng nhân từ, do nghề nghiệp và thiên chức của họ, ví dụ như nhà giáo, những cô bảo mẫu ở nhà trẻ, mầm non… Vậy mà có những người như cô bảo mẫu Lê Vi, trường mầm non Thiên Thơ, quận Phú Nhuận,TP.HCM, vì muốn cháu Đan Trân ngừng khóc đã dán băng keo vào miệng dẫn đến cái chết thương tâm của bé (năm 2007), bà bảo mẫu Quảng Thị Kim Hoa ở Biên Hòa, Đồng Nai đã đánh chửi tàn tệ các cháu nhỏ ở lứa tuổi mầm non mỗi ngày đến độ phãi lãnh án tù (năm 2008), cô giáo Trần Thị Xuân Nữ, Nhóm trẻ tư thục Hoa Lan, quận Tân Phú, TP.HCM đã nhốt bé Lê Quang Vinh vào thang máy vận chuyển thức ăn khiến bé bị thương tích khắp người (năm 2010)… Còn biết bao những vụ bạo hành khác cả về thể chất lẫn tinh thần, đã và vẫn đang diễn ra trong môi trường giáo dục, từ mẫu giáo đến tiểu học, trung học…mà báo chí và dư luận không hay biết? Thường gặp nhất là chuyện chửi mắng, xúc phạm học sinh bằng những lời lẽ nặng nề, như vụ cô giáo dạy tiếng Anh trường THPT chuyên Trần Phú, Hải Phòng mắng chửi học sinh bị các em ghi âm và tung lên mạng nên mới lộ ra chẳng hạn.

Bé Lê Quang Vinh 4 tuổi bị cô giáo nhốt vào thang máy thương tích đầy mình. Nguồn: tienphong.vn

Ngay trong một môi trường tưởng đâu phải là mái ấm cho những đứa trẻ bất hạnh không chốn nương thân, hóa ra cũng lại là địa ngục, như nhà mở Đồng Nai, nơi 4 đứa trẻ vì bị bạo hành quá mức gần đây đã phải bỏ trốn với thương tích đầy mình. Đáng nói hơn, nhà mở này không phải là một cơ sở tư nhân mà là một “Công trình Thanh Niên”, một mái ấm thiện nguyện trực thuộc quản lý của Tỉnh đoàn!

Sự vô cảm, độc ác diễn ra ở những người vốn làm một cái nghề rất được tôn trọng khác: phóng viên, nhà báo. Trước đây tôi đã từng viết bài về đạo đức nghề báo ở Việt Nam bây giờ. Trong rất nhiều trường hợp, đặc biệt là quanh những vụ cướp, giết, hiếp…cách đưa tin, viết bài của nhiều phóng viên gây cho người đọc cảm giác về sự vô cảm, thiếu tính nhân văn. Qua một trường hợp báo chí khai thác xung quanh vụ hung thủ Nguyễn Đức Nghĩa giết người rồi chặt đầu để phi tang gần đây chẳng hạn. Báo chí nước nào thì cũng khoái khai thác những vụ cướp, giết, hiếp để thỏa mãn trí tò mò của người đọc. Nhưng cái cách các nhà báo bu xung quanh, chĩa máy vào bị cáo, canh từng giọt nước mắt của bị cáo, từng khoảng khắc đau khổ của người mẹ hung thủ hay người bố nạn nhân để đưa lên trang báo, phải nói là rất “phản cảm”. Chưa kể có cả tấm hình trong đó một phóng viên còn cười hớn hở trong khi giơ máy chụp được một kiểu ảnh ưng ý của bị cáo, người đang ngồi rũ ra trước bản án tử hình! Và ngay chính hung thủ Nguyễn Đức Nghĩa cũng là một ví dụ rõ nét về tội ác có thể được thực hiện ở một con người hoàn toàn bình thường, tỉnh táo, được ăn học tử tế, nhưng lại có thể có những hành vi cực kỳ man rợ.

Một thành phần khác trong xã hội Việt Nam rất bị mang tai mang tiếng về sự độc ác, tàn nhẫn đối với đồng loại là giới công an. Chỉ cần vào google gõ “công an đánh dân”, “công an đánh chết người” sẽ cho ra hàng loạt kết quả. Rất nhiều khi công an đánh người đến thương tật nặng nề, hoặc tử vong, chỉ vì những tội rất nhỏ như quên đội mũ bảo hiểm chẳng hạn. Có những trường hợp nạn nhân bị đưa về đồn thẩm vấn rồi bị dùng nhục hình đến chết chỉ trong một thời gian ngắn, khiến thân nhân của họ bức xúc phải làm lớn chuyện để đòi công lý cho người bị chết oan, mà vụ bạo động xảy ra tại Bắc Giang, tháng 7.2010 là một ví dụ. Có thể nói thẳng rằng ở Việt Nam bây giờ, hình ảnh các “công an nhân dân” đã trở thành biểu tượng của thói độc ác, côn đồ, những hung thần của nhân dân, những kẻ chỉ biết tuân theo lệnh Đảng và sẵn sàng chà đạp lên luật pháp, chà đạp lên nhân quyền, coi tính mạng nhân dân chả ra gì. Và khi xảy ra chết người thì việc xử lý thường rất qua loa, người dân cứ việc đi kiện, cứ việc dài cổ mà chờ công lý được thực thi!

Bạo động ở Bắc Giang ngày 25.7.2010 do người dân bức xúc trước việc công an đánh chết người vô cớ. Nguồn: ttxva.com

Tình trạng này khiến các tổ chức nước ngoài cũng phải lên tiếng. “Tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch (HRW) vừa lên tiếng yêu cầu chính phủ Việt Nam điều tra các vụ cáo buộc công an hành xử tàn bạo với dân.
Tổ chức có trụ sở chính tại New York viết trong một thông cáo ra vào tối thứ Tư, rằng họ có trong tay tài liệu về 19 vụ bạo hành liên quan công an Việt Nam, trong đó 15 người chết, trong một năm qua.

Ông Phil Robertson, Phó Giám đốc phụ trách Á châu của HRW , nói: “Thông tin về các vụ bạo hành của công an đang ngày càng nhiều một cách đáng báo động ở Việt Nam, gây quan ngại nghiêm trọng rằng các sai phạm này khá phổ biến và có tính hệ thống.”

HRW kêu gọi chính phủ Viết Nam ra luật cấm công an lạm dụng quyền lực và bảo đảm rằng bất cứ công an viên nào có hành động như vậy sẽ bị kỷ luật, thậm chí truy tố hình sự.” (BBC ngày 23.9.2010)

Cái ác diễn ra dưới mọi hình thức. Làm ăn cẩu thả, vô trách nhiệm dẫn đến sập cầu, sập nhà, sụp hố trên đường…gây chết người; gây ô nhiễm môi trường từ thức ăn đến nguồn nước, không khí…dẫn đến những cái chết từ từ vì các loại bệnh tật; phá rừng, không có kế hoạch trong việc xây bừa bãi các công trình thủy điện, rồi lại xả lũ vô trách nhiệm…làm lũ lụt ngày càng nặng, mỗi năm số người chết và mất tích ngày càng cao v.v… Và kinh khủng hơn, nhà nước này cỏn đang quyết tâm lao vào những dự án như khai thác bauxite ở Tây Nguyên bằng mọi giá, bất chấp những bằng chứng cảnh báo sờ sờ trước mắt từ tai họa bùn đỏ ở Hungary và lũ bùn ở Cao Bằng…là đỉnh điểm của sự tàn ác, vô lương tâm đối với chính đồng bào của mình.


Lũ lụt ở Quảng Bình, người dân cầu cứu khi nghe tiếng cano cứu nạn đi qua. Nguồn: tuoitre.vn

Trẻ em ở xã Điện Nam di chuyển bằng bè chuối giữa dòng nước lũ. Nguồn: zing.vn

Khi một xã hội mà cái ác diễn ra từ thấp đến cao, từ nhẹ đến cực kỳ nghiêm trọng, diễn ra dưới mọi hình thức, trong mọi lĩnh vực, với mọi con người bình thường nhất, mọi hành vi bình thường nhất và trở thành chuyện thường ngày trong mắt đám đông, thì xã hội ấy thực sự đang đi đến chỗ tự hủy hoại mình. Vì sao con người Việt Nam, xã hội Việt Nam lại có thể trở thành tàn tệ đi như thế, điều này thì hầu như ai trong chúng ta cũng có thể trả lời.

Một thể chế chính trị độc tài, thối nát chỉ quen dùng bạo lực để đối phó, trừng trị người dân, không có một cơ chế giám sát, phản biện, những lực lượng đối lập để kìm hãm, cũng không có một nền luật pháp độc lập để đủ sức răn đe những kẻ phạm pháp nên tội ác ngang nhiên tồn tại, đặc biệt là ở những thành phần có chức có quyền; trong khi đó giáo dục lại yếu kém, về mặt tinh thần, văn hóa thì sự thiếu vắng niềm tin vào cái thiện cộng với lỗ hổng hoàn toàn về triết học, mỹ học…khiến cho con người gần với phần con hơn phần người, lại thêm những bức xúc đời thường do phải quay cuồng với muôn ngàn nỗi lo từ sinh kế đến sự an toàn của bản thân…khiến con người dễ trở nên vô cảm và độc ác.

Còn lại, một câu hỏi không thể trả lời đó là người Việt Nam có thể chấp nhận một môi trường xã hội như vậy cho đến bao giờ?

Song Chi

19-11-2010

Theo Blog Song Chi

]]>
0